Nhiều ý kiến trái chiều khi doanh nghiệp tham gia biên soạn, thẩm định giáo trình môn chung

11/10/2026 06:20
Tường San

GDVN -Khi các môn học chung được thiết kế tốt, giảng dạy hiệu quả và gắn với thực tiễn, đây sẽ là nền tảng quan trọng để giáo dục nghề nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, linh hoạt và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động.

Việc tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp, người sử dụng lao động, chuyên gia và các tổ chức nghề nghiệp trong quá trình xây dựng, thẩm định chương trình, giáo trình các môn học chung trong giáo dục nghề nghiệp tại Thông tư số 82/2026/TT-BGDĐT ngày 30/9/2026 quy định quy trình biên soạn, thẩm định và ban hành chương trình, giáo trình các môn học chung trong giáo dục nghề nghiệp đang nhận được nhiều sự quan tâm, đóng góp ý kiến của lãnh đạo một số trường cao đẳng.

Bảo đảm tính khách quan, khoa học và gắn kết với thực tiễn

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Phan Thị Lệ Thu – Phó Hiệu trưởng Thường trực Trường Cao đẳng Viễn Đông cho rằng, đây là quy định có ý nghĩa tích cực, thể hiện tư duy đổi mới trong quản lý giáo dục nghề nghiệp theo hướng tăng cường sự tham gia của xã hội, bảo đảm tính khách quan, khoa học và gắn kết với thực tiễn.

Theo cô Thu, dù không trực tiếp đào tạo kỹ năng nghề chuyên sâu, các môn học chung vẫn giữ vai trò nền tảng trong việc hình thành kiến thức, phẩm chất, năng lực giao tiếp, tư duy phản biện, ý thức pháp luật, tác phong công nghiệp và khả năng thích ứng của người học trong môi trường làm việc hiện đại. Vì vậy, chương trình, giáo trình các môn học chung vừa cần bảo đảm mục tiêu giáo dục thống nhất, vừa phải đáp ứng yêu cầu thực tiễn của thị trường lao động.

Sự tham gia của doanh nghiệp, người sử dụng lao động, chuyên gia và các hiệp hội ngành, nghề sẽ giúp bổ sung góc nhìn từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh và dịch vụ; đồng thời nhận diện những năng lực nền tảng mà người lao động cần có như kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật lao động, năng lực số và khả năng học tập suốt đời.

Qua đó, chương trình không chỉ bảo đảm yêu cầu về kiến thức mà còn tăng tính ứng dụng, phù hợp hơn với bối cảnh chuyển đổi số và sự thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động.

526242630-1216617890479176-5216119027230106290-n.jpg
Sinh viên Trường Cao đẳng Viễn Đông. Ảnh: Website nhà trường

Tuy nhiên, cô Thu cho rằng, sự tham gia của các bên cần được tổ chức theo nguyên tắc đúng vai trò, đúng chuyên môn và có cơ chế tiếp thu ý kiến minh bạch. Cơ quan quản lý và đội ngũ chuyên môn giáo dục vẫn phải giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm tính khoa học, tính sư phạm, tính hệ thống và mục tiêu giáo dục quốc gia. Doanh nghiệp, tổ chức nghề nghiệp đóng vai trò cung cấp ý kiến phản biện từ thực tiễn, không thay thế trách nhiệm chuyên môn của cơ quan biên soạn và thẩm định.

Vì vậy, quy định này không chỉ góp phần nâng cao tính khách quan, thực tiễn mà còn tạo cơ chế thúc đẩy mối liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp, hướng tới nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp một cách bền vững.

Từ thực tiễn quản lý và tổ chức đào tạo tại Trường Cao đẳng Viễn Đông, cô Thu nhận thấy việc huy động các thành phần này tham gia xây dựng chương trình có nhiều thuận lợi, song cũng đặt ra những yêu cầu nhất định về cơ chế phối hợp và tổ chức thực hiện.

Trước hết, sự tham gia của doanh nghiệp và người sử dụng lao động giúp chương trình đào tạo tiếp cận gần hơn với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Thông qua trao đổi, phản biện và đóng góp ý kiến, nhà trường có thể nhận diện rõ hơn những năng lực nền tảng người học cần được trang bị để thích ứng với môi trường làm việc, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và hội nhập quốc tế.

Bên cạnh đó, việc huy động chuyên gia, hiệp hội ngành, nghề còn tạo điều kiện kết nối tri thức khoa học với kinh nghiệm thực tiễn, tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với giáo dục và đào tạo.

Đối với Trường Cao đẳng Viễn Đông, cô Thu thông tin, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, bệnh viện và các đối tác trong nước, quốc tế là một trong những định hướng quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với việc làm và đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế.

Dù vậy, quá trình triển khai vẫn có thể phát sinh một số thách thức. Theo cô Thu, khó khăn lớn nhất nằm ở sự khác biệt về góc nhìn và mục tiêu giữa các bên.

Cụ thể, cơ quan quản lý giáo dục quan tâm đến tính thống nhất, chuẩn đầu ra và mục tiêu giáo dục; nhà trường chú trọng tính sư phạm và điều kiện triển khai; trong khi doanh nghiệp thường ưu tiên những năng lực có thể ứng dụng trực tiếp vào công việc. Việc dung hòa các yêu cầu này đòi hỏi phương pháp tổ chức khoa học và cơ chế phối hợp rõ ràng.

Ngoài ra, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nhân sự chuyên môn, thời gian và nguồn lực để tham gia thường xuyên. Một số doanh nghiệp có thể am hiểu sâu về chuyên môn nghề nghiệp nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm trong xây dựng chương trình giáo dục, phương pháp sư phạm và đánh giá kết quả học tập.

Do đó, cần xây dựng cơ chế huy động chuyên gia, doanh nghiệp theo từng lĩnh vực phù hợp; quy định rõ trách nhiệm, quyền lợi và phương thức đóng góp; đồng thời có hình thức ghi nhận sự tham gia của các tổ chức, cá nhân. Đặc biệt, cần có cơ chế tổng hợp, phản hồi và giải trình đối với các ý kiến đóng góp để sự tham gia của doanh nghiệp thực sự mang lại giá trị, thay vì chỉ dừng lại ở hình thức.

Từ thực tiễn hoạt động của Trường Cao đẳng Viễn Đông, cô Thu đã đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm bảo đảm Thông tư số 82/2026/TT-BGDĐT khi triển khai tạo chuyển biến thực chất trong công tác xây dựng, thẩm định và sử dụng chương trình, giáo trình các môn học chung, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực thích ứng của người học.

Thứ nhất, cần có hướng dẫn triển khai cụ thể, thống nhất. Bộ Giáo dục và Đào tạo nên làm rõ trách nhiệm của từng chủ thể, tiêu chí lựa chọn thành viên tham gia biên soạn, thẩm định, quy trình tiếp nhận ý kiến và phương pháp đánh giá chất lượng chương trình, giáo trình. Điều này giúp các bên hiểu đúng vai trò, thực hiện thống nhất và hạn chế vướng mắc trong quá trình triển khai.

Thứ hai, cần bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với đặc thù ngành, nghề. Các môn học chung cần có mục tiêu và chuẩn kiến thức, kỹ năng thống nhất, nhưng phương pháp giảng dạy, tình huống học tập và ví dụ minh họa nên được vận dụng phù hợp với từng nhóm ngành. Chẳng hạn, các môn Ngoại ngữ, Năng lực số hay Pháp luật có thể sử dụng tình huống gắn với môi trường bệnh viện, công nghệ thông tin, logistics, dịch vụ và sản xuất. Cách tiếp cận này giúp người học nhận thấy giá trị thực tiễn của các môn học chung, đồng thời nâng cao khả năng vận dụng kiến thức vào công việc.

Thứ ba, cần tăng cường cơ chế phối hợp thường xuyên giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp. Sự tham gia của doanh nghiệp không nên chỉ giới hạn ở giai đoạn biên soạn hoặc thẩm định, mà cần được duy trì thông qua khảo sát nhu cầu nhân lực, tiếp nhận phản hồi từ đơn vị sử dụng lao động, đánh giá kết quả học tập và theo dõi khả năng đáp ứng công việc của người tốt nghiệp. Đây là cơ sở quan trọng để chương trình, giáo trình được cải tiến dựa trên những minh chứng từ thực tiễn.

Thứ tư, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý chương trình, giáo trình. Một hệ thống dữ liệu tập trung, công khai và dễ tra cứu sẽ giúp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tiếp cận tài liệu chính thức, cập nhật phiên bản mới và gửi phản hồi trong quá trình thực hiện. Đồng thời, cơ quan quản lý có thể khai thác dữ liệu tổng hợp từ các cơ sở đào tạo để nhận diện những khó khăn phổ biến, từ đó kịp thời điều chỉnh hướng dẫn và chính sách.

Thứ năm, cần quan tâm đến điều kiện triển khai tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Việc áp dụng chương trình mới có thể đòi hỏi điều chỉnh kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, bổ sung học liệu và đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá. Vì vậy, cần xây dựng lộ trình thực hiện phù hợp, hướng dẫn chuyển tiếp rõ ràng và tổ chức các lớp tập huấn chuyên môn, bảo đảm các trường có đủ điều kiện triển khai đồng bộ, hiệu quả.

“Điều chúng tôi kỳ vọng không chỉ là chương trình, giáo trình được xây dựng đúng quy trình, mà quan trọng hơn là sau khi ban hành, các chương trình đó phải thực sự đi vào giảng dạy, nâng cao chất lượng học tập và giúp người học hình thành những năng lực cần thiết cho cuộc sống, công việc.

Khi các môn học chung được thiết kế tốt, giảng dạy hiệu quả và gắn với thực tiễn, đây sẽ là nền tảng quan trọng để giáo dục nghề nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, linh hoạt và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động”, cô Thu nhấn mạnh.

Có thực sự cần sự tham gia của doanh nghiệp trong biên soạn, thẩm định môn học chung?

Ở góc nhìn khác, lãnh đạo một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp cho rằng, dù quy định mới phù hợp về định hướng, song việc yêu cầu doanh nghiệp tham gia biên soạn, thẩm định các môn học chung chưa thực sự cần thiết trong thực tiễn đào tạo.

Theo thầy Phan Tiềm – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng THACO, quy định về quyền tự chủ của cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong Thông tư số 82/2026/TT-BGDĐT phù hợp với Luật Giáo dục nghề nghiệp hiện hành cũng như thực tiễn tổ chức đào tạo và yêu cầu đầu ra của các cơ sở.

Cụ thể, Điều 17 của Luật Giáo dục nghề nghiệp quy định, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chuẩn chương trình đào tạo; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chuẩn chương trình đào tạo; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng, ban hành chuẩn chương trình đào tạo đối với các ngành, nghề đặc thù.

Trong khi đó, Điều 18 Luật này quy định, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được tự chủ biên soạn, thẩm định, lựa chọn và ban hành chương trình đào tạo theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, bảo đảm đáp ứng chuẩn chương trình đào tạo.

Điều 3 Thông tư số 82/2026/TT-BGDĐT cũng quy định người đứng đầu cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được tự chủ tổ chức biên soạn hoặc lựa chọn, thẩm định, ban hành chương trình, giáo trình các môn học Ngoại ngữ, Năng lực số, Pháp luật và Giáo dục thể chất để xây dựng chương trình đào tạo các ngành, nghề theo quy định. Đây là những học phần trước đây thuộc phạm vi ban hành của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (cũ).

3.jpg
Sinh viên Trường Cao đẳng THACO trong buổi tham quan doanh nghiệp. Ảnh: Website nhà trường

Từ những quy định trên, thầy Tiềm cho rằng, điểm mới của Thông tư phù hợp với tinh thần của Luật Giáo dục nghề nghiệp, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở chủ động hơn trong tổ chức đào tạo.

Tuy nhiên, theo thầy Tiềm, sự tham gia của đại diện doanh nghiệp và người sử dụng lao động trong biên soạn, thẩm định các môn học, mô-đun chuyên môn nghề là rất cần thiết. Ngược lại, với các môn học chung, việc huy động những thành phần này chưa thực sự cần thiết và có thể gặp khó khăn do không dễ mời được người phù hợp tham gia.

Thầy Tiềm cho biết, nhiều năm qua, khi xây dựng chương trình đào tạo nghề, Trường Cao đẳng THACO đã triển khai phương pháp DACUM (Developing A Curriculum). Theo phương pháp này, quá trình xây dựng chương trình có sự tham gia của đại diện doanh nghiệp trong lĩnh vực, ngành nghề liên quan; đại diện người lao động đang làm việc trong lĩnh vực đó; cùng cán bộ quản lý và giáo viên của một số cơ sở đào tạo.

Thông qua sự phối hợp này, các bên xác định chuẩn đầu ra theo từng vị trí việc làm, bao gồm thái độ, kiến thức và kỹ năng. Trên cơ sở đó, nhà trường xây dựng chương trình đào tạo, xác định nội dung, các môn học và mô-đun nghề phù hợp.

Đồng tình với quan điểm trên, thầy Nguyễn Mạnh Trường – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định cho rằng, quy định tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong xây dựng chương trình, giáo trình các môn học chung phù hợp về mặt tư duy, định hướng; song cần xem xét tính cần thiết khi triển khai trong thực tế.

Theo thầy Trường, các môn học chung như Pháp luật, Tin học, Ngoại ngữ có vai trò trang bị kiến thức nền tảng cho người học. Đây là những kiến thức quan trọng, góp phần hình thành năng lực cần thiết, nhưng không phải kiến thức chuyên môn nghề. Trong khi đó, bản chất của giáo dục nghề nghiệp là hình thành kỹ năng làm việc trên cơ sở kiến thức chuyên môn. Hơn nữa, mỗi doanh nghiệp lại có những chuyên môn khác nhau; họ có chuyên môn khác nhau về năng lực số, ngoại ngữ, …

Vì vậy, việc yêu cầu doanh nghiệp tham gia biên soạn, thẩm định các môn học chung có thể chưa cần thiết. Nếu triển khai cứng nhắc, một số cơ sở có thể thực hiện chủ yếu để đáp ứng quy định, chưa chắc tạo ra giá trị thiết thực.

Ngược lại, với các học phần chuyên ngành, chẳng hạn Ngoại ngữ chuyên ngành hoặc Pháp luật chuyên ngành, sự đóng góp của chuyên gia, doanh nghiệp và đại diện người sử dụng lao động có thể mang lại hiệu quả rõ nét hơn. Bởi trên thực tế, doanh nghiệp thường quan tâm nhiều hơn đến những kiến thức chuyên môn và kỹ năng gắn trực tiếp với lĩnh vực hoạt động, ngành nghề của mình.

Nâng cao trách nhiệm của cơ quan ban hành chương trình, giáo trình môn học chung

Một điểm mới của Thông tư số 82/2026/TT-BGDĐT là quy định công khai chương trình, giáo trình các môn học chung trên trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành. Việc công khai toàn văn các tài liệu này phải tuân thủ quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, xuất bản và các quy định pháp luật có liên quan.

Đánh giá về quy định trên, Phó Hiệu trưởng Thường trực Trường Cao đẳng Viễn Đông bày tỏ sự đồng tình, cho rằng đây là bước tiến quan trọng nhằm tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và khả năng tiếp cận thông tin trong quản lý giáo dục nghề nghiệp.

Trước hết, việc công khai giúp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động tiếp cận nguồn tài liệu chính thức, thống nhất trong xây dựng kế hoạch đào tạo, tổ chức giảng dạy và đánh giá kết quả học tập. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với những cơ sở đào tạo nhiều ngành, nghề, có quy mô người học lớn và cần bảo đảm tính đồng bộ về chất lượng.

Không những vậy, việc công khai chương trình, giáo trình tạo điều kiện để giảng viên, cán bộ quản lý, người học và doanh nghiệp cùng tiếp cận, nghiên cứu, giám sát và đóng góp ý kiến. Qua đó, hạn chế tình trạng tiếp cận thông tin không đồng nhất, sử dụng tài liệu chưa được cập nhật hoặc phát sinh những cách hiểu khác nhau trong quá trình triển khai.

Dưới góc độ quản lý chất lượng, việc công khai còn góp phần nâng cao trách nhiệm của cơ quan ban hành, đồng thời giúp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động đối chiếu, rà soát và cải tiến hoạt động đào tạo. Đối với Trường Cao đẳng Viễn Đông, việc kịp thời tiếp cận các chương trình, giáo trình chính thức là yếu tố quan trọng để duy trì tính đồng bộ, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đào tạo.

Tuy nhiên, để quy định thực sự phát huy hiệu quả, cô Thu cho rằng việc công khai cần đi đôi với khả năng tiếp cận thuận tiện, thông tin đầy đủ và cập nhật kịp thời. Cơ quan ban hành nên xây dựng chuyên mục riêng trên trang thông tin điện tử, cung cấp đầy đủ chương trình, giáo trình, quyết định ban hành, ngày hiệu lực và thông tin về các lần sửa đổi, bổ sung.

Đồng thời, tài liệu cần được cung cấp dưới định dạng thuận tiện cho việc tra cứu, tải về và sử dụng; có thông báo rõ ràng khi xuất hiện phiên bản mới thay thế. Như vậy, công khai không chỉ là yêu cầu về thủ tục hành chính mà còn cần trở thành công cụ hỗ trợ quản lý, nâng cao chất lượng và thúc đẩy văn hóa minh bạch trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp.

Cùng bàn về vấn đề này, thầy Phan Tiềm cho rằng, công khai chương trình, giáo trình là quy định cần thiết và quan trọng, cần được thực hiện trước khi triển khai tuyển sinh, đào tạo.

Theo thầy Tiềm, hiện nay, các chương trình và hoạt động đào tạo đều cần được công khai để người học có đầy đủ thông tin khi tìm hiểu về cơ sở đào tạo và ngành, nghề dự định theo học. Trên cơ sở đó, người học có thể xem xét nội dung chương trình, giáo trình của từng ngành, nghề có phù hợp với nhu cầu, định hướng và khả năng của bản thân hay không trước khi đưa ra quyết định lựa chọn.

Tường San