Cân nhắc cách xác định nhà giáo quy đổi và diện tích đất tối thiểu trong dự thảo chuẩn GDNN

14/10/2026 08:21
Tường San

GDVN - Chuyên gia GDNN đề nghị bổ sung điều khoản chuyển tiếp, quy định rõ thời gian và lộ trình để các CSGDNN đang hoạt động từng bước đáp ứng tiêu chí mới trong dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp. 

Theo một số chuyên gia, lãnh đạo cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cần xem xét quy định tỷ lệ tối đa 30 người học trên một nhà giáo quy đổi và diện tích đất tối thiểu 12 m²/người học tại dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 38/2026/TT-BGDĐT ngày 29/4/2026 về chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp, để bảo đảm phù hợp với thực tiễn đào tạo.

Làm rõ cách xác định nhà giáo quy đổi

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Trần Anh Tuấn – Phó Chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh thông tin, qua nghiên cứu dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 38/2026/TT-BGDĐT, đặc biệt là các quy định liên quan đến tỷ lệ người học trên nhà giáo quy đổi và diện tích đất, diện tích sàn phục vụ đào tạo, thầy cơ bản thống nhất với việc lượng hóa các tiêu chí nhằm tạo cơ sở đánh giá thống nhất, minh bạch và có thể kiểm chứng mức độ đáp ứng chuẩn của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Tuy nhiên, từ góc độ quản trị nhân lực và tổ chức hoạt động đào tạo, thầy Tuấn cho rằng cơ quan soạn thảo cần xem xét, hoàn thiện một số nội dung để bảo đảm tính khả thi khi triển khai.

anh-1-3-1536x1025.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: Website Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội.

Theo thầy Tuấn, quy định tỷ lệ tối đa 30 người học trên một nhà giáo quy đổi là cần thiết, góp phần lượng hóa yêu cầu về đội ngũ và tạo căn cứ để cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch nhân lực.

Song, trên thực tế, giáo dục nghề nghiệp có tính đặc thù cao về ngành, nghề, trình độ đào tạo và tỷ trọng lý thuyết – thực hành. Nhu cầu nhà giáo giữa các ngành, nghề không giống nhau. Đặc biệt, với những ngành có tỷ trọng thực hành cao, yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, thao tác thiết bị, thí nghiệm, thực tập hoặc chăm sóc trực tiếp người học, tỷ lệ người học trên nhà giáo cần được xác định phù hợp với chương trình và điều kiện tổ chức đào tạo thực tế.

Do đó, thầy Tuấn đề nghị quy định tỷ lệ 30 người học/01 nhà giáo quy đổi là tỷ lệ bình quân tối đa ở cấp cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đồng thời bổ sung nguyên tắc: “Việc bố trí, sử dụng nhà giáo phải phù hợp với đặc thù ngành, nghề, trình độ đào tạo, chương trình đào tạo, quy mô nhóm/lớp học lý thuyết, thực hành, thực tập và các yêu cầu về an toàn trong tổ chức đào tạo”. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm có chuẩn chung để đánh giá, vừa tránh áp dụng máy móc một tỷ lệ cho tất cả ngành, nghề.

Về phương pháp xác định nhà giáo quy đổi, dự thảo quy định tổng số nhà giáo quy đổi bao gồm nhà giáo cơ hữu và một số nhóm khác như nhà giáo đồng cơ hữu, nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu, nhà giáo thỉnh giảng và cán bộ quản lý có tham gia giảng dạy.

Trước quy định này, thầy Tuấn đề nghị, cần làm rõ nguyên tắc sử dụng các nhóm nhà giáo trong đánh giá chuẩn, bởi số lượng nhà giáo quy đổi về mặt số học không hoàn toàn đồng nhất với năng lực nhân lực thường xuyên phục vụ hoạt động đào tạo.

Cụ thể, nhà giáo quy đổi có thể được sử dụng để xác định tổng năng lực nhân lực đào tạo của cơ sở. Tuy nhiên, cơ sở giáo dục nghề nghiệp vẫn phải bảo đảm đội ngũ nhà giáo cơ hữu hoặc nhà giáo thường xuyên đáp ứng yêu cầu đào tạo cốt lõi của các ngành, nghề đang triển khai.

Đồng thời, cần tránh tình trạng sử dụng việc quy đổi giờ giảng của cán bộ quản lý, nhà giáo thỉnh giảng hoặc các nhóm nhân lực khác để thay thế quá mức nhu cầu về đội ngũ nhà giáo thường xuyên. Theo thầy Tuấn, quy định rõ nội dung này sẽ giúp việc đánh giá phản ánh sát hơn năng lực tổ chức đào tạo thực tế, thay vì chỉ đáp ứng yêu cầu về số lượng trên giấy tờ.

Trong khi đó, Nhà giáo Ưu tú, Tiến sĩ Phạm Xuân Khánh – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội cho rằng, việc quy định các tiêu chí cụ thể về tỷ lệ người học trên nhà giáo quy đổi và diện tích đất là cần thiết, tạo căn cứ đánh giá khi thực hiện những công tác như thành lập trường, thanh tra, kiểm tra và đánh giá mức độ đáp ứng chuẩn của cơ sở giáo dục nghề nghiệp, … Tuy nhiên, các tiêu chí cần được xây dựng trên cơ sở thực tiễn đào tạo, tránh áp dụng cứng nhắc, ảnh hưởng đến khả năng phát triển của các nhà trường.

Đối với quy định tối đa 30 người học trên một nhà giáo quy đổi, thầy Khánh băn khoăn, liệu mức giới hạn này có còn phù hợp với thực tiễn giáo dục nghề nghiệp hiện nay, nhất là trong bối cảnh công nghệ ngày càng phát triển, phương thức tổ chức dạy học có nhiều thay đổi.

Dẫn kinh nghiệm quốc tế, thầy Khánh cho biết, tại Trung Quốc, một số cơ sở đào tạo nghề tổ chức lớp học với khoảng 50–60 người học trên một nhà giáo mà vẫn bảo đảm chất lượng và hiệu quả; đặc biệt ở những lĩnh vực như kinh tế, công nghệ thông tin, …, việc dạy số lượng sinh viên đông không làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.

Từ thực tế đó, thầy Khánh cho rằng, việc xác định tỷ lệ người học trên nhà giáo cần căn cứ vào đặc thù từng ngành, nghề và điều kiện tổ chức đào tạo. Có những ngành học có thể tổ chức lớp đông mà vẫn bảo đảm hiệu quả, nhưng cũng có những ngành đòi hỏi tăng cường hướng dẫn trực tiếp, thực hành trên thiết bị hoặc tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu an toàn, do đó cần bố trí số lượng nhà giáo phù hợp.

“Không nên áp dụng một quy định cứng chung cho tất cả các ngành, nghề. Chúng ta phải làm sao khi đưa ra quy định vẫn đảm bảo tính linh hoạt để vừa bảo đảm chất lượng đào tạo, vừa tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phát triển”, thầy Khánh nhấn mạnh.

Diện tích đất 12 m²/người học cần có lộ trình thực hiện

Đối với quy định diện tích đất tối thiểu 12 m²/người học, thầy Tuấn thống nhất với sự cần thiết phải lượng hóa yêu cầu về quỹ đất nhằm bảo đảm cơ sở giáo dục nghề nghiệp có điều kiện phát triển ổn định, lâu dài.

Tuy nhiên, dự thảo xác định diện tích đất theo quy mô đào tạo cao nhất dự kiến trong chiến lược, kế hoạch phát triển nhà trường. Theo thầy, cách tính này có thể tạo áp lực lớn đối với các cơ sở đang hoạt động, nhất là tại đô thị, nơi giá đất cao và quỹ đất dành cho giáo dục hạn chế.

Nếu quy mô cao nhất trong chiến lược được xác định ở mức lớn, yêu cầu về quỹ đất cũng tăng tương ứng, trong khi đây có thể chỉ là mục tiêu phát triển dài hạn. Vì vậy, thầy Tuấn đề nghị nghiên cứu xác định diện tích đất theo quy mô đào tạo dự kiến của từng giai đoạn phát triển đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, thay vì yêu cầu cơ sở phải đáp ứng ngay mức quy mô cao nhất trong toàn bộ thời kỳ chiến lược.

Bên cạnh đó, cần làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của mức 12 m²/người học, cũng như phương pháp tính để bảo đảm tiêu chí phù hợp với điều kiện phát triển của từng cơ sở, vùng kinh tế – xã hội và đặc thù ngành, nghề.

Theo thầy Tuấn, hai tiêu chí về tỷ lệ nhà giáo và diện tích đất đều tác động trực tiếp đến nguồn lực của cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Để đáp ứng tỷ lệ nhà giáo, các trường có thể phải tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, bố trí lại vị trí việc làm và bổ sung kinh phí tiền lương. Trong khi đó, yêu cầu về diện tích đất có thể kéo theo nhu cầu quy hoạch, đầu tư, giao đất, thuê đất và huy động nguồn vốn đầu tư công hoặc nguồn lực của chính cơ sở.

Do vậy, thầy Tuấn đề nghị bổ sung điều khoản chuyển tiếp, quy định rõ thời gian và lộ trình để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đang hoạt động từng bước đáp ứng tiêu chí mới. Các trường cần được phép xây dựng kế hoạch khắc phục, đầu tư theo từng giai đoạn, phù hợp với điều kiện thực tế.

Ngoài ra, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất giữa các chỉ tiêu, bảo đảm phương pháp xác định rõ ràng, không trùng lặp và phản ánh đúng năng lực thực tế của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Để hoàn thiện dự thảo, thầy Tuấn kiến nghị, giữ tỷ lệ tối đa 30 người học/01 nhà giáo quy đổi làm chuẩn bình quân cấp cơ sở; bổ sung nguyên tắc bố trí nhà giáo theo đặc thù ngành, nghề và chương trình đào tạo; làm rõ giới hạn, điều kiện sử dụng nhà giáo quy đổi từ các nguồn ngoài đội ngũ cơ hữu; đồng thời giữ định hướng diện tích đất 12 m²/người học nhưng xác định theo quy mô phát triển từng giai đoạn.

Việc hoàn thiện các quy định này sẽ góp phần xây dựng bộ chuẩn vừa định lượng, minh bạch, thuận lợi cho kiểm tra, đánh giá, vừa phù hợp với thực tiễn quản trị nhân lực và điều kiện phát triển đa dạng của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Quan trọng hơn, các tiêu chí cần hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời tránh tạo ra yêu cầu đầu tư vượt quá khả năng đáp ứng của nhà trường.

Về tiêu chí diện tích đất tối thiểu 12 m²/người học, thầy Khánh cho rằng, cần cân nhắc kỹ từ yêu cầu thực tế của hoạt động đào tạo nghề.

Theo đó, giáo dục nghề nghiệp có đặc thù dành nhiều thời lượng đào tạo cho thực hành, vì vậy, các trường cần quỹ đất tương đối để bố trí phòng thực hành, nhà xưởng và hệ thống thiết bị phục vụ đào tạo.

So sánh với chuẩn cơ sở giáo dục đại học hiện hành quy định diện tích đất tối thiểu 25 m²/người học, thầy Khánh nhận định, mức 12 m²/người học đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể còn thấp so với nhu cầu thực tế của một số ngành nghề.

Vậy nên, việc xây dựng chuẩn diện tích đất/người học cần gắn với định hướng đầu tư dài hạn, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo. Bởi, đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp cần có quy hoạch đồng bộ, đủ nguồn lực và tầm nhìn dài hạn, tránh tình trạng đầu tư manh mún, khiến các trường thiếu không gian thực hành và khó đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh mới.

Tường San