Kiện tướng quốc gia có bằng thạc sĩ được tính hệ số như tiến sĩ: Trường đào tạo thể thao nói gì?

16/10/2026 06:22
Hồng Linh

GDVN - Quy định mới mang lại bước thay đổi lớn đối với lĩnh vực đào tạo đặc thù, tạo cơ hội để trường thể thao làm giàu lực lượng giảng viên, nâng cao chất lượng giảng dạy, đào tạo, huấn luyện.

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT quy định Chuẩn cơ sở giáo dục đại học có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2026. Đặc biệt, quy định về giảng viên nhóm ngành Thể dục, thể thao và lĩnh vực Nghệ thuật được đang nhận được nhiều sự quan tâm từ phía các cơ sở giáo dục đại học đặc thù.

Theo đó, Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, Nghệ nhân Nhân dân, Nhà giáo ưu tú, Nhà giáo Nhân dân, huấn luyện viên/vận động viên đã từng giành giải vô địch thế giới, vô địch châu lục, vô địch SEA Games, được phong cấp vận động viên Kiện tướng quốc gia, đồng thời có bằng tốt nghiệp trình độ đại học, thạc sĩ cùng ngành hoặc cùng nhóm ngành với ngành tham gia đào tạo được xem xét tính hệ số như giảng viên có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ.

Giải quyết bài toán định biên mà không hạ thấp chuẩn chất lượng

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trang Hưng - Trưởng phòng Phòng Tổ chức, Pháp chế, Tài vụ, Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh nhận định: "Điểm mới của Thông tư mang lại bước thay đổi lớn đối với các lĩnh vực đào tạo đặc thù, tạo cơ hội cho nhà trường tuyển dụng được các tài năng thể thao để làm giàu lực lượng giảng viên, nâng cao chất lượng giảng dạy, đào tạo, huấn luyện.

Thực tế, nhà trường luôn ưu tiên thu hút các tài năng thể thao về công tác. Tuy nhiên, nhiều vận động viên, huấn luyện viên mới chỉ có bằng đại học nên chưa đáp ứng được yêu cầu về trình độ giảng viên. Trong khi đó quá trình học tập nâng cao trình độ của nhóm đối tượng này thường kéo dài. Nhà trường có hệ đào tạo tích lũy dành cho vận động viên, cho phép người học vừa tập luyện, thi đấu vừa hoàn thành chương trình học. Thời gian đào tạo có thể kéo dài tối đa 8 năm. Do đó, khi giải nghệ, một số vận động viên vẫn chưa kịp học lên trình độ thạc sĩ hoặc tiến sĩ.

Vì vậy, quy định mới giúp tháo gỡ nút thắt trên, giúp nhà trường vừa đáp ứng được các tiêu chuẩn về tỷ lệ giảng viên, vừa giữ vững và phát huy thế mạnh cốt lõi là đào tạo thực hành, ứng dụng".

Đặc biệt, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trang Hưng, Thông tư thể hiện sự ghi nhận đối với giá trị chuyên môn của đội ngũ vận động viên, huấn luyện viên có trình độ thực hành ở đỉnh cao. Qua nhiều năm thi đấu và huấn luyện, họ không chỉ tích lũy kỹ năng chuyên môn mà còn sở hữu những kinh nghiệm, bí quyết huấn luyện quý giá. Nếu được tham gia giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học, đội ngũ này sẽ góp phần gắn kết kiến thức lý thuyết với thực tiễn thi đấu, huấn luyện.

Quy định mới còn tạo động lực để vận động viên, huấn luyện viên phấn đấu trở thành giảng viên. Việc ghi nhận trình độ chuyên môn, thành tích thực tiễn theo cơ chế của Thông tư mở ra cơ hội nghề nghiệp rõ ràng hơn cho những người có năng lực.

Có thể hiểu đây là cơ chế “cộng một bậc” đầy nhân văn, vừa ghi nhận tài năng thực tiễn, vừa không làm hạ thấp các tiêu chuẩn cốt lõi tại Chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học theo Thông tư 26/2026/TT-BGDĐT. Đây cũng có thể là bước khởi đầu để họ tiếp tục học tập, nâng cao trình độ và phát triển sự nghiệp giảng dạy.

Dưới góc nhìn của Tiến sĩ Võ Quốc Thắng - Hiệu trưởng Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, quy định tại điểm 1.6 Mục I Phụ lục I Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT là một bước chuyển biến thể chế mang tính đột phá, tháo gỡ điểm nghẽn tồn tại nhiều năm trong quản trị giáo dục đại học năng khiếu nói chung và thể dục thể thao nói riêng.

Khi đối sánh với Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT, sự khác biệt cốt lõi thể hiện rõ ở 2 khía cạnh. Đầu tiên, về cơ chế công nhận thành tựu thực tiễn của huấn luyện viên, vận động viên, Thông tư số 83 đã chính thức luật hóa cơ chế tính hệ số tương đương, thừa nhận giá trị tinh hoa của kỹ năng nghề nghiệp và kinh nghiệm thực chiến.

Đồng thời, về cách tính tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ (tiêu chí 2.3), Thông tư số 01 đặt ra ngưỡng tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đối với trường đặc thù có đào tạo tiến sĩ là không thấp hơn 10% (và từ năm 2030 không thấp hơn 15%), nhưng mẫu số và tử số đều bị bó hẹp trong việc chỉ đếm các tiến sĩ có bằng cấp học thuật thực tế.

Trong khi đó, Thông tư số 83 dù giữ nguyên ngưỡng tỷ lệ này nhưng đã cho phép đưa lực lượng huấn luyện viên, vận động viên (có bằng thạc sĩ kết hợp danh hiệu Kiện tướng/Huy chương) vào diện tính hệ số tương đương tiến sĩ. Điều này giúp các trường đại học đào tạo ngành nghệ thuật, thể dục thể thao giải quyết căn cơ bài toán định biên mà không làm hạ thấp chuẩn chất lượng

Tại Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh lực lượng huấn luyện viên, vận động viên thành tích cao đẳng cấp quốc tế, Kiện tướng quốc gia các môn thể thao, hiện tham gia khoảng 45% – 50% tổng khối lượng giảng dạy thực hành các môn thể thao trong các chương trình đào tạo ở các trình độ.

Khi thực hiện Thông tư số 01, việc sử dụng nhân sự giảng dạy bị bó hẹp trong khái niệm "giảng viên toàn thời gian", yêu cầu phải ký hợp đồng lao động đủ 12 tháng và không được ký hợp đồng từ 3 tháng trở lên với đơn vị khác. Quy định này đã làm phát sinh rào cản rất lớn khi nhà trường muốn huy động các chuyên gia, huấn luyện viên trưởng quốc gia đang công tác tại các trung tâm thể thao bên ngoài.

Ngược lại, Thông tư số 83 kết hợp với Luật Giáo dục đại học và Luật Nhà giáo đã mở ra một hành lang pháp lý linh hoạt, chuẩn hóa các hình thức hợp tác nhân sự mới.

z7476656079118-efc0978cbed34b652986fd65936c22b9.jpg
Tiến sĩ Võ Quốc Thắng - Hiệu trưởng Trường Đại học Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC.

Đề xuất liên thông cơ sở dữ liệu ngành Thể thao với hệ thống HEMIS của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Để quy định mới được triển khai hiệu quả, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trang Hưng cho rằng, cần có sự phối hợp giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Một trong những vấn đề cần làm rõ là việc xác định, xác nhận thành tích của vận động viên, huấn luyện viên để làm căn cứ áp dụng cơ chế quy đổi. Cụ thể, cần thống nhất những giải đấu, thành tích nào được công nhận và đáp ứng điều kiện theo quy định.

Việc xây dựng tiêu chí và hướng dẫn thống nhất sẽ giúp các cơ sở giáo dục có căn cứ thực hiện, tránh tình trạng mỗi trường áp dụng một cách khác nhau. Đây cũng là cơ sở để bảo đảm tính minh bạch, nhất quán trong quá trình đánh giá và công nhận thành tích thực tiễn của đội ngũ vận động viên, huấn luyện viên.

Cùng với đó, cần chuẩn hóa nghiệp vụ sư phạm đối với đội ngũ vận động viên, huấn luyện viên khi tham gia giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học. Dù có thế mạnh về kỹ năng thực hành, kinh nghiệm chuyên môn và đã trải qua quá trình đào tạo đại học, đội ngũ này vẫn cần được bồi dưỡng thêm về kỹ năng sư phạm, phương pháp giảng dạy đại học và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.

Thầy Hưng cũng đề xuất, nghiên cứu xây dựng các chương trình bồi dưỡng riêng, phù hợp với đặc thù của nhóm đối tượng này, qua đó giúp họ nhanh chóng thích nghi với môi trường giáo dục đại học và phát huy tốt năng lực chuyên môn trong công tác giảng dạy.

Đặc biệt, cần có cách đánh giá hiệu quả công việc phù hợp với đội ngũ huấn luyện viên, vận động viên theo Thông tư 20/2020/TT-BGDĐT ngày 27/7/2020 về Quy định chế độ làm việc của giảng viên cơ sở giáo dục đại học. Bên cạnh hoạt động giảng dạy, một số giảng viên có thể trực tiếp tham gia huấn luyện và các hoạt động chuyên môn khác.

Vì vậy, việc đánh giá cần tính đến kết quả huấn luyện, sự tiến bộ của sinh viên, vận động viên cũng như những sản phẩm chuyên môn như chương trình, giáo án huấn luyện mà họ xây dựng và áp dụng trong thực tiễn. Cách tiếp cận này giúp bảo đảm sự cân bằng trong đánh giá và phát huy thế mạnh về chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn của đội ngũ giảng viên đặc thù.

"Có thể nói, sự liên kết giữa các quy định về chế độ làm việc của giảng viên, chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học (Thông tư 20/2020/TT-BGDĐT, Thông tư 26/2026/TT-BGDĐT) cùng với chuẩn cơ sở giáo dục đại học mới (Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT) đã tạo nên một hành lang pháp lý và chính sách đồng bộ, thấu hiểu sâu sắc đặc thù của khối trường thể thao.

Hành lang từ Thông tư đã mở, thách thức tiếp theo là các cơ sở đào tạo cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá nội bộ, lượng hoá rõ ràng việc quy đổi thành tích thực tiễn thành giờ chuẩn giảng dạy và nghiên cứu khoa học, nhằm phát huy tối đa năng lực của đội ngũ giảng viên trên" - Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trang Hưng nhấn mạnh.

1792051878406-6050383046174423462-6050383046174423462-7ca574218d4333fc1d74403aa3fba2cf.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trang Hưng - Trưởng phòng Phòng Tổ chức, Pháp chế, Tài vụ, Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh. Ảnh: NVCC.

Theo quan điểm của Tiến sĩ Võ Quốc Thắng, để chuyển hóa từ một vận động viên đỉnh cao thành một giảng viên đại học, căn cứ Thông tư số 26/2026/TT-BGDĐT về Chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học và đối sánh với Chuẩn cơ sở Giáo dục đại học tại Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT, nhà trường đặt ra 04 nhóm yêu cầu bổ sung bắt buộc: Bồi dưỡng chuẩn hóa nghiệp vụ sư phạm đại học và đạo đức nghề nghiệp, Năng lực ứng dụng công nghệ giáo dục số và trí tuệ nhân tạo, Năng lực nghiên cứu khoa học và bảo đảm liêm chính học thuật, Năng lực an toàn Y sinh học thể dục thể thao và sơ cấp cứu chấn thương.

Đề cập thêm đến một số vướng mắc khi tuyển dụng hoặc mời huấn luyện viên, vận động viên tham gia giảng dạy, vị Hiệu trưởng cho hay, vấn đề đầu tiên là quỹ thời gian, huấn luyện viên, vận động viên đương nhiệm thường xuyên phải tập trung đội tuyển quốc gia hoặc đi tập huấn nước ngoài dài ngày (1 - 3 tháng), làm gián đoạn kế hoạch đào tạo theo tín chỉ cố định của trường.

Chế độ đãi ngộ tài chính chưa đủ sức cạnh tranh. Điều 23, Luật Nhà giáo quy định lương nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp nhưng định mức thù lao giờ dạy thực tế của viên chức công lập hiện nay vẫn còn thấp so với thu nhập ngoài thị trường thể thao chuyên nghiệp.

Bên cạnh đó là rào cản về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp khi đối sánh với các văn bản quy phạm pháp luật. Thông tư số 83 đã tháo gỡ quy đổi cho trường khi miễn tiêu chí 6.2 về sản phẩm khoa học công nghệ. Tuy nhiên, tiêu chuẩn chức danh cá nhân nhà giáo theo Thông tư số 26 lại chưa đồng bộ. Để thăng hạng giảng viên chính, giảng viên vẫn bắt buộc phải có 03 bài báo ISSN, 01 đề tài cơ sở và 01 sách đào tạo ISBN, không có cơ chế quy đổi việc huấn luyện vận động viên đạt huy chương quốc tế thành bài báo khoa học (trong khi khối ngành nghệ thuật tại Điều 7, khoản 3, điểm d, Thông tư 26 được thay thế bằng tác phẩm đạt giải quốc gia).

Ngoài ra, vướng mắc về đối soát minh chứng đồng bộ lên HEMIS. Việc thu thập, xác thực quyết định phong cấp Kiện tướng, chứng nhận huy chương thể thao quốc tế qua nhiều thời kỳ để cập nhật lên HEMIS (tiêu chí 1.3) gặp nhiều vướng mắc do thiếu cơ sở dữ liệu số liên thông giữa ngành Thể thao và Giáo dục.

Từ đó, nhà trường đề xuất một số giải pháp cơ chế chính sách như sau: Đơn vị kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo bổ sung cơ chế đặc thù trong chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên thể dục thể thao (sửa đổi Thông tư 26/2026/TT-BGDĐT), cho phép quy đổi việc trực tiếp đào tạo vận động viên đạt huy chương quốc tế hoặc sáng chế/sáng kiến kỹ thuật huấn luyện được nghiệm thu thành tiêu chuẩn tương đương bài báo khoa học ISSN và sách chuyên khảo khi xét thăng hạng giảng viên chính, giảng viên cao cấp.

Đồng thời, liên thông cơ sở dữ liệu ngành Thể thao với hệ thống HEMIS của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kết nối trực tiếp dữ liệu số về vận động viên, huấn luyện viên, Kiện tướng với HEMIS để tự động hóa việc xác thực tiêu chí 2.3, cắt giảm tối đa thủ tục hành chính giấy tờ.

Hồng Linh