NSƯT, NSND có bằng thạc sĩ sẽ được tính hệ số như tiến sĩ, trường đào tạo nghệ thuật phấn khởi

15/10/2026 06:24
Hồng Linh
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Đại diện một số cơ sở giáo dục đào tạo lĩnh vực nghệ thuật đánh giá, quy định mới là sự điều chỉnh có cơ sở thực tiễn, góp phần ghi nhận công bằng đối với thành tựu nghề nghiệp của các nghệ sĩ biểu diễn.

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT quy định Chuẩn cơ sở giáo dục đại học có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2026. Đặc biệt, tại Phụ lục 1, Giảng viên nhóm ngành Thể dục, thể thao và lĩnh vực Nghệ thuật được quy định như sau:

Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, Nghệ nhân Nhân dân, Nhà giáo ưu tú, Nhà giáo Nhân dân, huấn luyện viên/vận động viên đã từng giành giải vô địch thế giới, vô địch châu lục, vô địch SEA Games, được phong cấp vận động viên Kiện tướng quốc gia, đồng thời có bằng tốt nghiệp trình độ đại học cùng ngành hoặc cùng nhóm ngành với ngành tham gia đào tạo được xem xét tính hệ số như giảng viên có trình độ thạc sĩ.

Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ nhân Nhân dân, Nhà giáo Nhân dân, huấn luyện viên/vận động viên đã từng giành giải vô địch thế giới, vô địch châu lục, vô địch SEA Games, được phong cấp vận động viên Kiện tướng quốc gia, đồng thời có bằng tốt nghiệp trình độ thạc sĩ cùng ngành hoặc cùng nhóm ngành đào tạo được xem xét tính hệ số như giảng viên có trình độ tiến sĩ.

Nhìn nhận đầy đủ hơn giá trị của năng lực thực hành nghề nghiệp

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Mai Anh - Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Học viện Âm nhạc Huế cho biết: “Thông tư số 83 đã tạo sự đột phá với khối ngành nghệ thuật nhìn nhận đúng giá trị của những nghệ sĩ biểu diễn. Tại Học viện Âm nhạc Huế, nhiều năm qua, chúng tôi vẫn luôn mời các Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, nghệ nhân dân gian tiêu biểu - đặc biệt là trong các chuyên ngành Nhạc cụ truyền thống, Ca Huế, Nhã nhạc cung đình và Thanh nhạc, tham gia giảng dạy chuyên ngành, chấm thi tốt nghiệp hoặc hướng dẫn các chương trình hòa tấu, biểu diễn.

Tuy nhiên, nhà trường chỉ có thể mời họ với hình thức thỉnh giảng theo giờ, không thể tính vào cơ cấu giảng viên toàn thời gian trình độ cao để gánh tải đào tạo đại học và sau đại học một cách chính danh”.

Thầy Mai Anh chỉ ra, với độ mở của quy định mới, nhà trường có thể ký hợp đồng toàn thời gian hoặc đồng cơ hữu dài hạn với các nghệ sĩ có danh hiệu cao. Đội ngũ này sẽ được phân công chính thức đứng tên phụ trách các học phần chuyên môn sâu, hướng dẫn tốt nghiệp đại học hoặc tham gia giảng dạy sau đại học phù hợp với hệ số quy đổi tương đương.

Ngoài ra, khi tính toán tỷ lệ sinh viên trên giảng viên quy đổi (Tiêu chí 2.1) và tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học (Tiêu chí 2.3), sự đóng góp của đội ngũ nghệ sĩ có danh hiệu sẽ được phản ánh trực tiếp vào số liệu thực tế của trường.

11-8049-5544.jpg
Thạc sĩ Mai Anh - Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Học viện Âm nhạc Huế. Ảnh: NVCC.

Đại diện một cơ sở giáo dục đào tạo lĩnh vực nghệ thuật bày tỏ, quy định này không đơn thuần là sự điều chỉnh về mặt kỹ thuật trong phương pháp tính hệ số giảng viên, mà còn thể hiện một chuyển biến đáng chú ý trong cách tiếp cận đối với chất lượng nguồn nhân lực của giáo dục đại học, đặc biệt là giáo dục đại học nghệ thuật. Đó là việc từng bước nhìn nhận đầy đủ hơn giá trị của năng lực thực hành nghề nghiệp, kinh nghiệm sáng tạo và những thành tựu nghệ thuật đã được ghi nhận, bên cạnh hệ thống tiêu chí đánh giá dựa trên văn bằng và trình độ học thuật.

Về bản chất, giáo dục đại học nghệ thuật có những đặc điểm mà nếu chỉ sử dụng các thước đo mang tính học thuật truyền thống thì khó phản ánh đầy đủ chất lượng thực tế của đội ngũ giảng viên. Tri thức trong nghệ thuật không chỉ tồn tại dưới dạng lý thuyết, công trình nghiên cứu hay hệ thống khái niệm khoa học, mà còn được thể hiện thông qua kỹ năng thực hành, năng lực biểu đạt, tư duy sáng tạo, kinh nghiệm nghề nghiệp và khả năng kiến tạo những giá trị thẩm mỹ. Có những tri thức được tích lũy qua hàng chục năm hoạt động nghệ thuật, được thể hiện trong tác phẩm, phong cách sáng tạo, phương pháp biểu diễn hoặc kỹ thuật nghề nghiệp, nhưng không dễ lượng hóa bằng các tiêu chí học thuật thông thường.

Tuy nhiên, vị này cũng phân tích, cần phân biệt rõ ba khái niệm: trình độ học thuật, trình độ nghề nghiệp và năng lực sư phạm. Trình độ học thuật phản ánh kết quả của quá trình đào tạo và nghiên cứu theo những chuẩn mực nhất định; trình độ nghề nghiệp thể hiện năng lực thực hành, sáng tạo và thành tựu trong hoạt động chuyên môn; còn năng lực sư phạm là khả năng tổ chức quá trình dạy học, truyền đạt tri thức, hướng dẫn và phát triển năng lực của người học.

Ba yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất và cũng không thể mặc nhiên thay thế cho nhau.

Chính vì vậy, cơ chế quy đổi hệ số cần được hiểu đúng là một phương pháp xác định nguồn lực giảng viên phục vụ đánh giá Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, chứ không phải sự công nhận tương đương về văn bằng hay trình độ đào tạo. Một nghệ sĩ có thành tựu xuất sắc không vì được tính hệ số như giảng viên có trình độ tiến sĩ mà đương nhiên trở thành người có trình độ tiến sĩ. Ngược lại, một người có học vị cao cũng không mặc nhiên có được năng lực sáng tạo và kinh nghiệm thực hành của một nghệ sĩ chuyên nghiệp.

“Tôi cho rằng giá trị lớn nhất của chính sách nằm ở chỗ tạo ra sự cân bằng hợp lý hơn giữa các thước đo học thuật và giá trị nghề nghiệp đặc thù. Đây cũng là hướng tiếp cận cần thiết trong quá trình đổi mới giáo dục đại học nghệ thuật: bảo đảm chuẩn mực học thuật nhưng không xem nhẹ năng lực sáng tạo, tôn trọng giá trị của văn bằng đồng thời ghi nhận đúng mức những tri thức và thành tựu được hình thành từ thực tiễn nghề nghiệp” - vị này bày tỏ.

Vị này chia sẻ thêm, khi triển khai quy định mới, các cơ sở đào tạo cần kết hợp việc rà soát hồ sơ, điều kiện và hệ số quy đổi của giảng viên với đánh giá thực chất năng lực đội ngũ theo từng chương trình đào tạo.

Cần xác định rõ đâu là lực lượng giảng dạy nòng cốt, đâu là chuyên gia thực hành cần thu hút, những nội dung nào cần tăng cường năng lực nghiên cứu và những học phần nào cần sự tham gia sâu hơn của các nghệ sĩ đang hoạt động chuyên nghiệp.

Nếu thực hiện tốt, quy định mới không chỉ giúp các trường xác định các chỉ số đội ngũ phù hợp hơn, mà còn có thể trở thành một cơ sở để nhìn nhận lại phương thức phát triển và sử dụng giảng viên theo hướng chú trọng năng lực, hiệu quả và sự phù hợp với đặc thù nghề nghiệp.

Ngược lại, nếu chỉ quan tâm đến kết quả quy đổi để cải thiện các chỉ số thống kê thì chính sách có nguy cơ dừng lại ở sự thay đổi trên hồ sơ quản lý mà chưa tạo ra chuyển biến tương xứng về chất lượng giáo dục. Theo tôi, đây là vấn đề quan trọng mà các cơ sở đào tạo cần nhận thức rõ ngay từ khi triển khai.

Xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả tham gia giảng dạy của nghệ sĩ, nghệ nhân

Dưới góc nhìn của Tiến sĩ Phạm Huy Quang - Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh, quy định mới đã tạo độ mở cho các cơ sở đào tạo nghệ thuật. Do đặc thù lĩnh vực nghệ thuật, nhiều ngành chưa đào tạo trình độ tiến sĩ. Một số người có bằng thạc sĩ nghệ thuật phải học tiến sĩ ngành khác. Vì thế, việc cho phép sử dụng bằng đại học hoặc thạc sĩ kết hợp với danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ sĩ Nhân dân để tính hệ số tương đương trình độ thạc sĩ, tiến sĩ sẽ tạo thuận lợi hơn cho các nhà trường.

Thầy Quang cho rằng, cũng cần cân nhắc thêm đối với những Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú không có bằng đại học, nhằm bảo đảm sự phù hợp với đặc thù của lĩnh vực nghệ thuật. Thực tế, nhiều nghệ sĩ, nghệ nhân đặc biệt là nghệ sĩ, nghệ nhân cao tuổi được truyền nghề trong gia đình. Với trường hợp này, họ vẫn chưa thuộc diện được quy đổi, vì quy định vẫn gắn điều kiện phải có bằng đại học hoặc thạc sĩ.

Bên cạnh đó, Tiến sĩ Phạm Huy Quang bày tỏ băn khoăn về việc áp dụng quy định mới đối với việc chủ trì ngành đào tạo. Theo thầy, nếu giảng viên có bằng thạc sĩ nghệ thuật và danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú được tính hệ số như giảng viên có trình độ tiến sĩ thì cần làm rõ liệu đội ngũ này có đủ điều kiện chủ trì ngành đào tạo hay không?

Việc xem xét vấn đề này có ý nghĩa thực tiễn đối với các cơ sở đào tạo nghệ thuật, đặc biệt là khu vực phía Nam, do tại đây đang không có cơ sở giáo dục nào đào tạo tiến sĩ ngành sân khấu, điện ảnh. Do đó, việc tìm kiếm người có trình độ tiến sĩ thuộc ngành phù hợp để chủ trì ngành đào tạo cũng gặp khó khăn.

Nếu đội ngũ nghệ sĩ có danh hiệu, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn được xem xét theo hướng phù hợp, các trường sẽ có thêm điều kiện để bố trí nhân sự đáp ứng yêu cầu đào tạo.

z5319124381069-e619cdce3fd2655f9c70b4f93c0b70c6-1-8349.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Huy Quang - Hiệu trưởng Trường Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Website nhà trường.

Đề cập đến chiến lược khai thác thêm nguồn nhân lực Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú… để bổ sung, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng dạy, vị đại diện cơ sở giáo dục đại học đào tạo nghệ thuật chỉ ra, việc này cần được đặt trong chiến lược phát triển đội ngũ và nâng cao chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học nghệ thuật, thay vì chỉ được xem là một giải pháp bổ sung nhân sự trước mắt hoặc để đáp ứng những yêu cầu về chỉ số đội ngũ.

Trước hết, cần thay đổi cách tiếp cận trong hoạch định nhu cầu nhân lực. Việc phát triển đội ngũ cần xuất phát từ yêu cầu của chương trình đào tạo và những năng lực mà người học cần đạt sau khi tốt nghiệp. Từ chuẩn đầu ra và cấu trúc chương trình, cơ sở đào tạo mới xác định được những lĩnh vực chuyên môn cần giảng viên có năng lực nghiên cứu chuyên sâu, những học phần cần người có kinh nghiệm thực hành nghề nghiệp và những nội dung đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều nhóm giảng viên.

Cách tiếp cận này giúp tránh tình trạng phát triển đội ngũ thiên về số lượng hoặc hình thức, đồng thời bảo đảm mỗi nguồn nhân lực được sử dụng đúng với thế mạnh chuyên môn của mình.

Bên cạnh đó, cần xây dựng phương thức hợp tác linh hoạt nhưng có tính ổn định với các nghệ sĩ, nghệ nhân và chuyên gia đang hoạt động chuyên nghiệp. Ngoài đội ngũ cơ hữu giữ vai trò nòng cốt, các cơ sở đào tạo có thể phát triển mạng lưới chuyên gia tham gia giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn thực hành, hỗ trợ phát triển chương trình, tổ chức workshop và các dự án sáng tạo nghệ thuật.

Mặc dù vậy, việc hợp tác không nên chỉ giới hạn ở những hoạt động mang tính giao lưu hoặc truyền cảm hứng. Muốn tạo ra tác động thực chất đối với chất lượng đào tạo, sự tham gia của chuyên gia cần được thiết kế gắn với mục tiêu học tập cụ thể, nội dung chương trình, phương pháp đánh giá và kết quả mà người học phải đạt được.

Đồng thời, chú trọng phát triển năng lực của chính đội ngũ giảng viên hiện có. Đào tạo nghệ thuật sẽ khó phát triển bền vững nếu hình thành sự phân tách giữa một nhóm giảng viên chủ yếu đảm nhiệm lý luận, nghiên cứu và một nhóm nghệ sĩ chỉ tham gia hướng dẫn thực hành. Về lâu dài, cần tạo điều kiện để giảng viên có nền tảng học thuật được tiếp cận thường xuyên với môi trường sáng tạo nghệ thuật chuyên nghiệp, đồng thời hỗ trợ những nghệ sĩ tham gia giảng dạy nâng cao năng lực sư phạm, phương pháp nghiên cứu và khả năng hệ thống hóa tri thức nghề nghiệp.

Đặc biệt, trong lĩnh vực nghệ thuật, hoạt động nghiên cứu không nên bị nhìn nhận một cách tách rời khỏi thực tiễn sáng tạo. Nghiên cứu lịch sử và lý luận nghệ thuật, phân tích tác phẩm, nghiên cứu phương pháp biểu diễn, phương pháp sáng tác, công nghệ nghệ thuật và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn nghề nghiệp đều có thể góp phần phát triển tri thức chuyên ngành và nâng cao chất lượng đào tạo. Vì vậy, cần khuyến khích sự tương tác hai chiều giữa hoạt động nghiên cứu với hoạt động sáng tạo và thực hành.

Các cơ sở đào tạo cũng nên quan tâm hơn đến việc xây dựng môi trường học thuật và sáng tạo có khả năng thu hút nghệ sĩ giỏi tham gia lâu dài. Sức hấp dẫn của một cơ sở đào tạo đối với nghệ sĩ không chỉ nằm ở thù lao mà còn ở điều kiện sáng tạo, khả năng hợp tác chuyên môn, cơ hội phát triển ý tưởng và giá trị của việc truyền dạy kinh nghiệm cho thế hệ kế cận. Nếu nhà trường có môi trường chuyên môn tốt, có những dự án nghệ thuật có chất lượng và tạo điều kiện cho nghệ sĩ phát huy năng lực sáng tạo, mối quan hệ hợp tác sẽ có cơ sở phát triển bền vững hơn.

Một vấn đề khác cũng rất quan trọng là xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả tham gia giảng dạy của nghệ sĩ, nghệ nhân. Việc đánh giá không nên dừng ở danh hiệu, số giờ tham gia hoặc mức độ nổi tiếng của cá nhân, mà phải gắn với chất lượng hướng dẫn, sự tiến bộ của người học, kết quả thực hành và những đóng góp cụ thể cho việc phát triển chương trình, học liệu và hoạt động chuyên môn của cơ sở đào tạo.

"Đích đến của việc phát triển đội ngũ không phải là sở hữu nhiều danh hiệu hay học vị trên hồ sơ, mà là hình thành được một môi trường đào tạo có khả năng nuôi dưỡng tài năng, phát triển tư duy nghệ thuật, truyền thụ những giá trị nghề nghiệp và tạo điều kiện để người học thích ứng với thực tiễn sáng tạo luôn vận động.

Tôi cho rằng một cơ sở giáo dục đại học nghệ thuật thực sự có chất lượng phải vừa giữ được những chuẩn mực khoa học và sư phạm của giáo dục đại học, vừa tạo được không gian để tri thức nghệ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp và năng lực sáng tạo được truyền thụ, phát triển và làm mới qua các thế hệ. Đó cũng là hướng phát triển bền vững mà các chính sách về đội ngũ giảng viên cần hướng tới" - vị này nhấn mạnh.

Hồng Linh