Theo khảo sát của Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, đào tạo văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh tại các cơ sở giáo dục đại học hiện có sự khác biệt về khối lượng tín chỉ, phương thức đào tạo và chuẩn đầu ra. Chẳng hạn, cùng một hình thức đào tạo một số trường đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh có khối lượng tín chỉ khoảng từ 60-70 tín chỉ, trong khi một số trường lại có số lượng tín chỉ từ 100 trở lên.
Cũng theo khảo sát, phần lớn các cơ sở giáo dục đang triển khai đào tạo chương trình này theo hình thức đào tạo thường xuyên (vừa làm vừa học, đào tạo từ xa, tự học có hướng dẫn). Qua khảo sát khoảng 30 cơ sở giáo dục đào tạo văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh tại khu vực miền Nam, với nhóm các trường chỉ đào tạo theo 01 hình thức có 04 cơ sở đào tạo theo hình thức chính quy, 07 cơ sở đào tạo theo hình thức từ xa và 09 cơ sở đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học. [1]
Sự khác biệt này đặt ra yêu cầu về cơ sở xây dựng chương trình đào tạo, đồng thời đòi hỏi các trường phải bảo đảm người học đạt được năng lực ngoại ngữ tương xứng với trình độ được cấp bằng và đáp ứng yêu cầu sử dụng tiếng Anh trong thực tế.
Không thể rút gọn tín chỉ vì đã có một văn bằng trước đó
Theo tìm hiểu, Trường Đại học Văn Lang, Trường Đại học Phú Yên là hai trong số ít cơ sở giáo dục duy trì đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh theo hình thức đào tạo chính quy.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Cửu Đỉnh - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo Trường Đại học Văn Lang cho biết, trong nhiều năm nay, công tác tuyển sinh của nhà trường cơ bản đáp ứng đủ chỉ tiêu. Ngoài ra, nhà trường luôn đặt chất lượng đào tạo lên hàng đầu, trong đó chất lượng đầu ra là yếu tố quan trọng, quyết định uy tín và sự phát triển lâu dài của cơ sở giáo dục đại học.
Đối với chương trình đào tạo văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh, nhà trường xác định cần bảo đảm người học sau khi tốt nghiệp có đủ năng lực tham gia thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu công việc và được đánh giá cao.
Mặc dù trong bối cảnh tuyển sinh có nhiều thay đổi, việc cân nhắc triển khai thêm phương thức đào tạo phù hợp là cần thiết. Tuy nhiên, việc này phải dựa trên khả năng bảo đảm chất lượng, thay vì chỉ hướng đến mục tiêu thu hút người học. Vì vậy, Trường Đại học Văn Lang tiếp tục xác định đào tạo chính quy là hình thức chủ yếu đối với chương trình đào tạo văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh, qua đó duy trì chất lượng đào tạo cũng như bảo đảm người học có năng lực thực tế sau khi tốt nghiệp.
Lý giải về sự chênh lệch số tín chỉ giữa các cơ sở giáo dục, thầy Đỉnh cho rằng, nguyên nhân có thể xuất phát từ cách xây dựng chương trình đào tạo của mỗi trường. Vì vậy, việc xây dựng số lượng tín chỉ cần được xem xét trên cơ sở các quy định về đào tạo trình độ đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Khối lượng kiến thức, yêu cầu học tập cần phải được xác định trên cơ sở mục tiêu đào tạo, không nên rút gọn chỉ vì người học đã có một văn bằng trước đó. Quan trọng hơn, các trường phải bảo đảm được chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.
Chẳng hạn, có trường xây dựng chương trình đào tạo văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh với 60-70 tín chỉ, trong khi một số trường khác yêu cầu người học tích lũy hơn 100 tín chỉ cần làm rõ căn cứ xác định khối lượng học tập của từng chương trình, đồng thời đối chiếu chuẩn đầu ra, cấu trúc chương trình và các học phần được công nhận để xác định nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch này.
Cùng bàn về vấn đề này, Tiến sĩ Châu Văn Đôn - Trưởng Khoa, Khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Phú Yên cho biết, hiện nhà trường tuyển sinh văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh theo hình thức đào tạo chính quy. Đối tượng chính của chương trình này là sinh viên đã tốt nghiệp các ngành như Sư phạm Tiểu học, Sư phạm Mầm non, Sư phạm Toán, Sư phạm Ngữ văn, Công nghệ thông tin có nhu cầu bổ sung kiến thức, nâng cao năng lực tiếng Anh để phục vụ công việc, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về sử dụng ngoại ngữ trong bối cảnh ngành giáo dục đang từng bước triển khai đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Việc lựa chọn hình thức đào tạo chính quy xuất phát trước hết từ mục tiêu chương trình, yêu cầu về năng lực của người học khi tốt nghiệp và các điều kiện bảo đảm chất lượng của nhà trường. Với hình thức chính quy, kế hoạch học tập được tổ chức có hệ thống, tạo điều kiện duy trì tương tác giữa giảng viên và người học, thực hành thường xuyên, kiểm tra, đánh giá trực tiếp cũng như theo dõi tiến độ học tập. Đây là những yếu tố có thể hỗ trợ quá trình phát triển năng lực ngôn ngữ của sinh viên.
Hơn nữa, văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh đào tạo theo hình thức chính quy sẽ có giá trị cho học viên khi ra trường thực hiện các nhiệm vụ, học tập tại các cơ sở giáo dục hoặc cơ quan ban ngành có sử dụng tiếng Anh.
Theo thầy Đôn, đào tạo văn bằng 2 thực tế là hình thức đào tạo liên thông đại học - đại học. Tại Trường Đại học Phú Yên, chương trình đào tạo ngành Ngôn ngữ Anh chính quy là 125 tín chỉ, đối với đại học liên thông đại học - đại học (hay còn gọi là chương trình văn bằng 2) số lượng tín chỉ là từ 70-75 tín chỉ. Khối lượng tín chỉ người học cần tích lũy được xác định trên cơ sở công nhận kết quả học tập đã tích lũy và chuyển đổi tín chỉ.
Theo Thông tư 52/2026/TT-BGDĐT, các cơ sở giáo dục đại học chủ động xây dựng quy định nội bộ về đào tạo liên thông và công nhận kết quả học tập. Tuy nhiên, người học phải hoàn thành tại cơ sở cấp bằng ít nhất 50% tổng khối lượng chương trình đào tạo. Còn theo Điều 8, Thông tư 54/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định khối lượng học tập tối thiểu với chương trình đào tạo trình độ đại học là 120 tín chỉ. Như vậy, sinh viên học văn bằng 2 sẽ được miễn trừ các học phần đã tích lũy phù hợp với chuẩn đầu ra và chỉ phải học phần khối lượng còn lại (đảm bảo tối thiểu 50% chương trình của trường cấp bằng).
Chuẩn đầu ra cần gắn với năng lực thực chất của người học
Đối với chương trình đào tạo văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh, chuẩn đầu ra ngoại ngữ không chỉ là điều kiện xét tốt nghiệp mà còn phản ánh năng lực thực tế của người học.
Thầy Đỉnh cho rằng, hiện nay các trường có sự khác biệt trong quy định chuẩn đầu ra ngoại ngữ chủ yếu xuất phát từ cách tiếp cận của mỗi cơ sở giáo dục trong việc đánh giá năng lực người học và bảo đảm chất lượng đào tạo.
Có trường yêu cầu người học phải có chứng chỉ ngoại ngữ đạt một trình độ nhất định theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam như B1, B2 hoặc C1. Đây là cách thức tương đối trực quan vì năng lực ngoại ngữ được minh chứng bằng kết quả cụ thể. Ngược lại, cũng có trường không bắt buộc người học đạt được chứng chỉ mà tập trung đánh giá năng lực thông qua quá trình đào tạo, các học phần bắt buộc và kết quả kiểm tra theo chương trình của nhà trường.
Về nguyên tắc, cả hai cách tiếp cận đều có thể được xem xét nếu đáp ứng các quy định hiện hành và bảo đảm người học đạt chuẩn đầu ra đã công bố. Vấn đề cốt lõi là nhà trường phải có căn cứ đánh giá đáng tin cậy, không chỉ dựa vào việc người học đã hoàn thành đủ tín chỉ.
Hiện Trường Đại học Văn Lang quy định chuẩn đầu ra tiếng Anh từ B2 trở lên đối với sinh viên tốt nghiệp tất các ngành đào tạo của trường. Đối với ngành Ngôn ngữ Anh, chuẩn đầu ra ngoại ngữ được xác định trong chương trình đào tạo. Nhà trường không nhất thiết yêu cầu người học phải có chứng chỉ ngoại ngữ mới được công nhận tốt nghiệp, mà có thể đánh giá năng lực thông qua các hình thức được quy định trong chương trình.
Nhà trường cũng đã xây dựng và tổ chức các học phần tiếng Anh theo chương trình đào tạo được đánh giá, kiểm định. Vì vậy, nếu người học hoàn thành đầy đủ các học phần và đạt yêu cầu theo quy định, nhà trường vẫn có căn cứ để công nhận người học đạt chuẩn đầu ra ngoại ngữ.
Theo thầy Đỉnh, để bảo đảm chất lượng và tính thống nhất trong đào tạo giữa các cơ sở giáo dục, trước hết, các trường cần tuân thủ quy định về đào tạo và bảo đảm chất lượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Hiện nay, các cơ sở giáo dục có thể tổ chức đào tạo theo nhiều hình thức, trong đó có đào tạo trực tiếp và đào tạo trực tuyến. Tuy nhiên, việc lựa chọn phương thức giảng dạy cần căn cứ vào đặc thù của từng học phần. Đào tạo trực tuyến không đồng nghĩa với việc toàn bộ học phần đều được triển khai theo hình thức này.
Đối với những học phần có tính thực hành cao, đòi hỏi người học phải thường xuyên giao tiếp và tương tác trực tiếp, các trường cần cân nhắc kỹ lưỡng phương thức tổ chức giảng dạy để người học có đủ điều kiện rèn luyện kỹ năng và đáp ứng yêu cầu về chuẩn đầu ra.
Đặc biệt, Ngôn ngữ Anh là ngành học chú trọng năng lực giao tiếp và khả năng vận dụng ngôn ngữ trong thực tế. Vì vậy, quá trình đào tạo và đánh giá cần có những hình thức kiểm tra đủ tin cậy để xác định người học thực sự có khả năng sử dụng tiếng Anh, thay vì chỉ căn cứ vào việc hoàn thành bài tập hoặc các yêu cầu học tập trực tuyến.
Dù tổ chức đào tạo theo hình thức nào, các trường đều phải bảo đảm người học đạt chuẩn đầu ra của chương trình, đồng thời cần tăng cường kiểm tra, đánh giá để bảo đảm năng lực thực tế của người học sau khi tốt nghiệp.
Bên cạnh trách nhiệm của cơ sở giáo dục, công tác kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý cũng đóng vai trò quan trọng. Các quy định về đào tạo và bảo đảm chất lượng chỉ phát huy hiệu quả khi được thực hiện nghiêm túc, đi kèm với hoạt động kiểm tra, giám sát thường xuyên.
Trong khi đó, thầy Đôn cho rằng, nên gắn chuẩn đầu ra ngoại ngữ của chương trình đào tạo văn bằng 2 với đặc thù ngành học, vị trí việc làm và nhu cầu thực tế. Việc điều chỉnh này mang tính thực tiễn cao, giúp nâng cao chất lượng nhân lực và giải quyết triệt để tình trạng có văn bằng chỉ để đối phó. Cách tiếp cận này cũng phù hợp với đặc điểm của người học văn bằng 2 là những người đã tốt nghiệp một văn bằng đại học và đã hoặc đang có việc làm. Họ học để chuyển đổi nghề nghiệp, nâng cao nghiệp vụ hoặc phục vụ trực tiếp cho một vị trí công việc cụ thể.
Muốn vậy, cần thiết kế chuẩn đầu ra theo yêu cầu thực tế giúp người học tốt nghiệp xong có thể sử dụng ngoại ngữ làm việc ngay, tránh tình trạng "có bằng nhưng không biết dùng" hoặc "học xong để đấy". Nếu chuẩn ngoại ngữ được thiết kế vừa vặn, hữu ích cho công việc và mức lương tương lai, người học sẽ chủ động đầu tư công sức để đạt được năng lực thực chất, xóa bỏ "bệnh hình thức".
Việc gắn chuẩn đầu ra ngoại ngữ của chương trình đào tạo văn bằng 2 với đặc thù ngành học, vị trí việc làm và nhu cầu thực tế cũng phù hợp với xu hướng đổi mới giáo dục đại học.
Tài liệu tham khảo:
[1] https://giaoduc.net.vn/so-luong-tin-chi-trong-dao-tao-van-bang-2-ngon-ngu-anh-o-30-csgddh-phia-nam-moi-truong-mot-kieu-post262936.gd