Theo khảo sát của Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam cho thấy, dù cùng đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh theo một hình thức, các cơ sở giáo dục đại học vẫn có sự khác biệt đáng kể về khối lượng kiến thức người học phải tích lũy.
Đáng chú ý, số lượng tín chỉ trong chương trình đào tạo có sự chênh lệch lớn. Một số trường tổ chức đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh theo hình thức đào tạo thường xuyên (hình thức đào tạo vừa làm vừa học, học từ xa hoặc tự học có hướng dẫn) với khối lượng chỉ khoảng 60–70 tín chỉ, trong khi một số cơ sở khác yêu cầu người học tích lũy từ 100 tín chỉ trở lên, kể cả sau khi đã trừ số tín chỉ được miễn theo quy định.
Sự chênh lệch này đặt ra “dấu hỏi” cần làm rõ về căn cứ xác định khối lượng kiến thức và yêu cầu về chuẩn đầu ra. Đặc biệt, với hình thức đào tạo từ xa, cần xem xét liệu sự khác biệt về số lượng tín chỉ có đi kèm với sự khác biệt về nội dung, phương pháp tổ chức đào tạo và yêu cầu đánh giá năng lực người học hay không, qua đó bảo đảm chất lượng văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh.
Theo tìm hiểu, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Kinh tế Quốc dân là hai trong số ít cơ sở giáo dục đại học duy trì đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh không áp dụng phương thức từ xa.
Tại thông báo tuyển sinh văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh năm 2026, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội tuyển sinh người đã có bằng tốt nghiệp đại học, căn cứ vào điểm trung bình chung học tập toàn khóa của văn bằng thứ nhất theo thứ tự từ cao xuống thấp đến khi đủ chỉ tiêu. Thời gian đào tạo tối đa là 3 năm, phương thức học trực tiếp. Người học phải đạt trình độ ngoại ngữ bậc 5 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam để được công nhận tốt nghiệp.
Trong khi đó, Đại học Kinh tế Quốc dân bắt đầu tuyển sinh văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh theo hình thức chính quy từ năm 2018 và không tổ chức đào tạo chương trình này theo hình thức đào tạo thường xuyên. Các điều kiện đào tạo cơ bản tương tự chương trình Ngôn ngữ Anh hệ đại học chính quy tiêu chuẩn, từ khối lượng tín chỉ, quá trình học tập đến điều kiện xét tốt nghiệp và cấp bằng cử nhân.
Vì sao có cơ sở không đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh từ xa?
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Hoa Ngọc Sơn - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, nhà trường kiên trì phương thức đào tạo trực tiếp đối với văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh hình thức vừa làm vừa học. Số lượng học phần tổ chức học trực tuyến không vượt quá 30%.
Trong trường hợp điều kiện thời tiết bất lợi, chẳng hạn xảy ra ngập lụt, nhà trường có thể chuyển sang tổ chức học trực tuyến trên nền tảng Zoom. Giảng viên vẫn trực tiếp giảng bài, tham gia lớp học và tương tác với sinh viên, chứ không để người học tự nghiên cứu tài liệu mà thiếu đi sự hướng dẫn, tương tác.
Về chuẩn đầu ra, năng lực ngoại ngữ của sinh viên tốt nghiệp văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh tương đương với trình độ C1. Yêu cầu này được thể hiện trong quá trình đánh giá kết quả học tập, với những bài thi mà sinh viên phải đáp ứng được chuẩn năng lực ngoại ngữ.
Đáng chú ý, đối với những học phần trong chương trình văn bằng 1 có nội dung tương đương hoặc trùng với học phần của văn bằng 2, người học có thể được xem xét miễn học theo quy định. Tuy nhiên, việc công nhận kết quả học tập đã tích lũy không đồng nghĩa với việc cắt giảm tùy ý khối lượng kiến thức. Các học phần còn lại trong chương trình đào tạo vẫn phải được bảo đảm đầy đủ.
Thầy Sơn cho biết, chương trình đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh hình thức vừa làm vừa học của nhà trường có khoảng 130 tín chỉ. Sau khi xem xét công nhận các học phần đã hoàn thành ở văn bằng thứ nhất, số tín chỉ được miễn thường chỉ ở mức hơn 20 tín chỉ. Do đó, người học văn bằng 2 vẫn phải tích lũy khoảng 105–108 tín chỉ và khối lượng học tập không bao giờ dưới 105 tín chỉ.
Với những người đã có chứng chỉ ngoại ngữ, nhà trường có thể xem xét công nhận tương đương đối với một số học phần liên quan đến các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Tuy nhiên, việc công nhận còn phụ thuộc vào mức độ đáp ứng yêu cầu của chương trình. Trường hợp chứng chỉ chưa thể hiện đầy đủ cả bốn kỹ năng, sinh viên vẫn phải tham gia dự thi các học phần tương ứng để được đánh giá và ghi nhận kết quả.
Thống nhất chương trình đào tạo, đánh giá và chuẩn đầu ra
Còn theo Tiến sĩ Lê Anh Đức - Trưởng phòng Quản lý đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết, nhà trường bắt đầu tuyển sinh văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh theo hình thức chính quy từ năm 2018 và không tổ chức đào tạo chương trình này theo hình thức đào tạo thường xuyên. Hằng năm, nhà trường có thể tổ chức từ 1–2 đợt tuyển sinh, tùy kế hoạch đào tạo. Học phí văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh được nhà trường triển khai theo quy định, đồng thời thông báo tới người học trước khi năm học mới bắt đầu và ngay từ đầu khóa học.
Người học văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh hình thức chính quy của Đại học Kinh tế Quốc dân tham gia chương trình học tập như sinh viên đại học văn bằng thứ nhất, học theo tín chỉ, quản lý người học theo quy chế đào tạo trình độ đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của Đại học Kinh tế Quốc dân.
Chương trình đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh của nhà trường là chương trình đào tạo ngành chính - phụ (ngành chính là Ngôn ngữ Anh, ngành phụ là Quản trị kinh doanh), tổng số tín chỉ là 145, chưa tính các học phần Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng an ninh.
"Việc nhà trường lựa chọn hình thức đào tạo chính quy xuất phát trước hết từ mục tiêu chương trình, yêu cầu về năng lực của người học khi tốt nghiệp và các điều kiện bảo đảm chất lượng của nhà trường. Với hình thức chính quy, kế hoạch học tập được tổ chức có hệ thống, tạo điều kiện duy trì tương tác giữa giảng viên và người học, thực hành thường xuyên, kiểm tra, đánh giá trực tiếp và theo dõi tiến độ học tập. Đây là những yếu tố có thể hỗ trợ quá trình phát triển năng lực ngôn ngữ của sinh viên", thầy Đức chia sẻ.
Chương trình đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh chính quy của nhà trường có sự thống nhất giữa mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, phương thức đánh giá và chuẩn đầu ra.
Trước hết, chương trình xác định rõ những năng lực người học phải đạt được sau khi tốt nghiệp. Các năng lực này không dừng ở kiến thức ngôn ngữ, mà còn bao gồm khả năng sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp, học tập, nghiên cứu và những tình huống nghề nghiệp phù hợp với định hướng đào tạo (bậc 5 theo Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam)
Về tổ chức giảng dạy, chương trình tạo điều kiện để người học thực hành ngôn ngữ thường xuyên, phát triển đồng đều bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Các hoạt động thảo luận, thuyết trình, viết học thuật, xử lý tình huống và thực hành giao tiếp cần được thiết kế phù hợp với mục tiêu của từng học phần.
Kiểm tra, đánh giá phải phản ánh được năng lực thực tế của người học. Bên cạnh kiểm tra kiến thức, chương trình chú trọng khả năng vận dụng ngôn ngữ, sử dụng tiêu chí chấm điểm rõ ràng, bảo đảm tính khách quan và nhất quán giữa chuẩn đầu ra với kết quả đánh giá.
Nhà trường cũng thường xuyên rà soát, cập nhật chương trình, lấy ý kiến phản hồi của người học, giảng viên và các bên liên quan để điều chỉnh nội dung đào tạo phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
"Tất nhiên chất lượng chương trình không thể chỉ được chứng minh bằng số lượng học phần hoặc số tín chỉ. Đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh cần hướng người học đến việc có thực sự đạt được những năng lực đã cam kết trong chuẩn đầu ra hay không, đồng thời nhà trường phải có đủ minh chứng đáng tin cậy để xác nhận kết quả đó.
Đối với chương trình đào tạo ngành Ngôn ngữ Anh tại Đại học Kinh tế Quốc dân, yêu cầu chuẩn đầu ra cụ thể là người học phải có chứng chỉ tiếng Anh quốc tế IELTS 6.5 hoặc tương đương trở lên", thầy Đức cho biết.
Thầy Đức lưu ý, cần phân biệt chuẩn đầu ra ngoại ngữ của chương trình đào tạo với yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ.
"Việc đánh giá mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra phải dựa trên quy định đã công bố của chương trình, kết quả học tập, kết quả đánh giá các học phần và những minh chứng hợp lệ khác theo quy định của nhà trường. Mỗi cơ sở đào tạo có thể xác định chuẩn đầu ra tiếng Anh riêng cho từng chương trình trong khuôn khổ các quy định hiện hành. Tuy nhiên, chuẩn đầu ra cần được xác định căn cứ vào mục tiêu, nội dung chương trình, trình độ đào tạo, Khung trình độ quốc gia Việt Nam, quy định về chuẩn chương trình đào tạo và các yêu cầu chuyên môn liên quan. Với ngành Ngôn ngữ Anh, chuẩn đầu ra cần chú trọng khả năng sử dụng ngôn ngữ trong thực tế", thầy Đức chia sẻ.
Khác biệt số tín chỉ, bảo đảm chất lượng đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh ra sao?
Có quan điểm cho rằng, yêu cầu chuẩn đầu ra ngoại ngữ cần gắn với đặc thù ngành học, vị trí việc làm và nhu cầu sử dụng ngoại ngữ trong thực tế. Có như vậy mới khắc phục tình trạng người học, trong đó có không ít học viên, nghiên cứu sinh, chủ yếu tìm cách hoàn thành yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ bằng việc lựa chọn chương trình văn bằng 2 phương thức từ xa để đủ điều kiện tốt nghiệp hoặc đáp ứng chuẩn đầu ra của chương trình thạc sĩ, tiến sĩ. Trong khi đó, năng lực sử dụng ngoại ngữ trong công việc chưa được bảo đảm hoặc chưa phù hợp với nhu cầu nghề nghiệp.
Một số ý kiến đề xuất nên quy định chuẩn năng lực ngoại ngữ theo hướng tập trung vào những ngành nghề đòi hỏi sử dụng ngoại ngữ thường xuyên, nhằm bảo đảm chất lượng chuyên môn, hạn chế tình trạng chạy theo bằng cấp và tránh lãng phí nguồn lực của người học.
Chia sẻ về điều này, Tiến sĩ Hoa Ngọc Sơn nhấn mạnh: "Trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế, ngoại ngữ ngày càng trở thành yêu cầu quan trọng. Việt Nam phải tham gia sâu hơn vào các hoạt động hợp tác và cạnh tranh quốc tế. Chính vì thế, cần có những quy định về năng lực ngoại ngữ để thúc đẩy người học chủ động nâng cao trình độ".
Một chương trình đào tạo có thể tiếp nhận người học đến từ nhiều vị trí việc làm và lĩnh vực công tác khác nhau. Do vậy, việc đặt ra chuẩn đầu ra ngoại ngữ có ý nghĩa tạo động lực, thúc đẩy người học nâng cao năng lực và mở rộng cơ hội tham gia vào môi trường quốc tế.
Thầy Sơn cho biết, người học muốn được cấp văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh của Trường Đại học Ngoại ngữ phải đáp ứng chuẩn đầu ra mà nhà trường đặt ra. Việc cấp bằng cần gắn với năng lực thực tế của người học, chứ không ở việc hoàn thành các điều kiện mang tính thủ tục.
Cùng bàn về thực trạng cơ sở giáo dục đại học cùng đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh nhưng có sự khác biệt về hình thức đào tạo, phương thức tổ chức, số tín chỉ và chuẩn đầu ra, Tiến sĩ Lê Anh Đức cho rằng, cần xem xét vấn đề trên hai phương diện là quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học trong tổ chức đào tạo và trách nhiệm bảo đảm chất lượng đối với chương trình cấp bằng.
Các cơ sở giáo dục đại học có thể lựa chọn hình thức, phương thức tổ chức đào tạo phù hợp với đối tượng người học, điều kiện tổ chức và mục tiêu chương trình trong khuôn khổ pháp luật. Tuy nhiên, sự khác biệt về hình thức đào tạo không đồng nghĩa với việc có thể hạ thấp yêu cầu chuẩn đầu ra hoặc bỏ qua các điều kiện bảo đảm chất lượng.
Đối với số lượng tín chỉ, không nên chỉ nhìn vào con số để kết luận chương trình có chất lượng hay không. Chúng ta cần xem xét tổng thể khối lượng học tập, cấu trúc chương trình, nội dung học phần, yêu cầu thực hành, phương thức kiểm tra, đánh giá, điều kiện tổ chức giảng dạy và kết quả đầu ra thực tế.
"Một chương trình có số tín chỉ thấp hơn không đương nhiên là chương trình kém chất lượng và ngược lại, số tín chỉ cao cũng không tự động bảo đảm người học đạt năng lực tốt. Tuy nhiên, nếu chương trình có khối lượng học tập thấp nhưng vẫn cấp cùng loại văn bằng, trong khi yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và chuẩn đầu ra không được xác định rõ hoặc không được đánh giá đầy đủ, thì cần xem xét nghiêm túc tính tương xứng giữa mục tiêu đào tạo, khối lượng học tập và năng lực của người tốt nghiệp", thầy Đức lưu ý.
Chương trình đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh cần làm rõ số tín chỉ được tính trên cơ sở nào, có bao gồm các học phần được miễn hoặc công nhận chuyển đổi từ văn bằng thứ nhất hay không, cấu trúc chương trình có phù hợp với mục tiêu đào tạo hay không và người học có thực sự đáp ứng chuẩn đầu ra đã công bố hay không.
"Đối với chương trình văn bằng thứ hai ngành Ngôn ngữ Anh, tính phù hợp của khối lượng học tập cần gắn với yêu cầu về năng lực ngôn ngữ và các năng lực chuyên môn của ngành. Trường hợp khối lượng học tập không đủ để bảo đảm những năng lực cần thiết, cơ sở đào tạo phải rà soát, điều chỉnh chương trình và phương thức tổ chức đào tạo", thầy Đức chia sẻ.
Trước ý kiến cho rằng chuẩn đầu ra ngoại ngữ cần gắn với đặc thù ngành học, vị trí việc làm và nhu cầu sử dụng trong thực tế nhằm hạn chế tình trạng chạy theo văn bằng, thầy Đức bày tỏ đồng tình. Tuy nhiên, không nên đặt vấn đề theo hướng chỉ một số ngành mới cần ngoại ngữ, còn các ngành khác hoàn toàn không cần. Chúng ta nên xác định đúng mức độ và mục đích sử dụng ngoại ngữ trong từng bối cảnh.
Ví dụ, đối với chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, ngoại ngữ có thể phục vụ việc đọc và nghiên cứu tài liệu chuyên ngành, tiếp cận tri thức quốc tế, công bố khoa học và tham gia trao đổi học thuật. Chính vì vậy, yêu cầu ngoại ngữ cần được xác định phù hợp với quy chế tuyển sinh, đào tạo và định hướng của từng chương trình.
Đối với tuyển dụng, yêu cầu ngoại ngữ cần căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành và yêu cầu cụ thể của vị trí việc làm. Không nên đặt ra những điều kiện hình thức không cần thiết, song cũng không nên loại bỏ yêu cầu ngoại ngữ đối với những vị trí mà năng lực này thực sự cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ.
Chuyên gia cũng cho rằng, đào tạo Ngôn ngữ Anh cần bảo đảm người học có đủ năng lực ngoại ngữ để đáp ứng mục tiêu đào tạo và yêu cầu nghề nghiệp. Đồng thời, tránh áp dụng những điều kiện không cần thiết gây tốn kém thời gian, chi phí; góp phần nâng cao giá trị thực chất của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực.