Chuyên gia đề xuất cách đánh giá chất lượng khi số lượng công bố khoa học có xu hướng tăng

19/10/2026 06:22
Hồng Linh

GDVN - Số lượng công bố khoa học tăng là tín hiệu tích cực, cho thấy hoạt động nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục đang được đẩy mạnh nhưng cần đi cùng tiêu chí cụ thể để đánh giá chất lượng.

Số lượng công bố của hệ thống giáo dục Việt Nam có xu hướng tăng 17,6%, từ 22.249 bài (năm 2024) lên 26.157 bài (năm 2025). Trong 9 tháng năm 2026, toàn hệ thống ghi nhận 23.717 bài và ước tính cả năm đạt khoảng 31.600 bài. [1]

Dưới góc nhìn của các chuyên gia, số lượng công bố khoa học tăng là tín hiệu tích cực, cho thấy hoạt động nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục đang được đẩy mạnh. Tuy nhiên, cần có tiêu chí cụ thể để đánh giá chất lượng, đồng thời đổi mới cơ chế đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu và phát huy năng lực của các nhà khoa học Việt Nam.

Một số tiêu chí để đánh giá chất lượng nghiên cứu

Phân tích sự gia tăng số lượng công bố, Tiến sĩ Đỗ Đức Hiệp - Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới (Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) nhận định: "Đây là tín hiệu tích cực, cho thấy quy mô hoạt động nghiên cứu đang được mở rộng. Điều này góp phần nâng cao nhận thức của đội ngũ nhà khoa học, giảng viên và sinh viên về vị thế của Việt Nam trên bản đồ khoa học thế giới, những hạn chế cần khắc phục và định hướng phát triển trong tương lai.

Tuy nhiên, số lượng tăng không đồng nghĩa chất lượng nghiên cứu cũng tăng tương ứng. Để đánh giá thực chất, cần xem xét tỷ lệ bài báo đăng trên các tạp chí uy tín, mức độ phản biện, số lượt trích dẫn quốc tế và vai trò thực chất của các nhà khoa học Việt Nam trong công trình. Với lĩnh vực khoa học tự nhiên, chất lượng nghiên cứu còn có thể được phản ánh qua các bằng sáng chế, quy trình, tiêu chuẩn, sản phẩm và dịch vụ được phát triển từ kết quả nghiên cứu.

Ngoài ra, Việt Nam nên tham khảo kinh nghiệm quốc tế về lộ trình phát triển khoa học, từ công bố tri thức mới đến thử nghiệm, chuyển giao công nghệ, đo lường tác động kinh tế, xã hội và chính sách. Việc đối chiếu các kết quả này với mức đầu tư cho khoa học sẽ giúp đánh giá rõ hơn hiệu quả và mức độ phát triển thực chất của hoạt động nghiên cứu".

Chia sẻ về mối quan hệ giữa công bố quốc tế và thứ hạng đại học, Tiến sĩ Đỗ Đức Hiệp cho rằng, công bố khoa học là một trong những chỉ số được nhiều trường theo đuổi nhằm cải thiện vị trí trên các bảng xếp hạng quốc tế. Mặc dù vậy, số lượng bài báo không thể phản ánh đầy đủ chất lượng của một cơ sở giáo dục đại học.

Cần xem xét thêm khả năng các công trình được trích dẫn, ứng dụng và mức độ nhận diện của nhà trường trong cộng đồng khoa học quốc tế. Do đó, một trường có ít công bố khoa học chưa chắc có chất lượng thấp; ngược lại, số lượng bài báo lớn cũng không đồng nghĩa với năng lực đổi mới sáng tạo.

Dù vậy, gia tăng công bố quốc tế vẫn mang lại nhiều lợi ích cho các trường đại học. Trước hết, hoạt động này giúp nâng cao mức độ hiện diện và mở rộng cơ hội hợp tác quốc tế. Khi được cộng đồng khoa học biết đến nhiều hơn, các trường có thể chủ động thu hút đối tác, thay vì chỉ tìm kiếm cơ hội hợp tác.

Bên cạnh đó, năng lực nghiên cứu được nâng cao còn giúp nhà trường thu hút giảng viên, nhà khoa học và người học có định hướng nghiên cứu, tạo điều kiện phát triển các nhóm nghiên cứu và thúc đẩy hoạt động học thuật. Đây cũng là cơ sở để các trường từng bước nâng cao chất lượng nghiên cứu và cải thiện thứ hạng đại học.

Đồng quan điểm, Giáo sư, Tiến sĩ, Dược sĩ Thái Khắc Minh - Trưởng khoa, Khoa Dược, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển sản phẩm Chăm sóc Sức khỏe, Trường Đại học Khoa học Sức khỏe, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: "Đằng sau mỗi công trình nghiêm túc là quá trình đào tạo người nghiên cứu, tích lũy dữ liệu, hoàn thiện phương pháp và xây dựng quan hệ hợp tác. Vì vậy, giá trị của công bố vượt ra ngoài số lượng bài báo.

Dù thế, chỉ từ mức tăng số lượng, chưa thể kết luận đầy đủ về sự phát triển thực chất của năng lực nghiên cứu. Cần xem các nhà khoa học trong nước có làm chủ câu hỏi, phương pháp và dữ liệu hay không; các nhóm nghiên cứu có duy trì được hướng đi dài hạn hay không; và kết quả có được cộng đồng chuyên môn kiểm chứng, sử dụng, phát triển tiếp hay không? Hợp tác quốc tế rất cần thiết, nhưng điều đáng quan tâm là qua hợp tác, năng lực nội sinh của chúng ta được nâng lên như thế nào?

Để kết quả nghiên cứu tạo ra giá trị thực tiễn, cần đầu tư xuyên suốt từ khám phá ban đầu đến kiểm chứng, hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm và chuyển giao. Công bố khoa học là một dấu mốc quan trọng trong quá trình đó, nhưng khoảng cách từ kết quả được công bố đến sản phẩm được sử dụng có thể còn rất xa".

Bàn về vấn đề gia tăng số lượng công bố và thứ hạng trong các bảng xếp hạng đại học, thầy Minh nhận định, số lượng công bố phản ánh một phần quy mô hoạt động nghiên cứu; chất lượng thể hiện ở tính mới, độ tin cậy và đóng góp của kết quả; còn thứ hạng đại học phụ thuộc vào bộ tiêu chí của từng bảng xếp hạng. Ba yếu tố có liên quan, nhưng không thể dùng thay cho nhau.

Gia tăng các công bố có chất lượng giúp trường đại học được nhận diện rõ hơn trên bản đồ khoa học, mở rộng hợp tác, thu hút người học sau đại học và tạo thêm cơ hội tiếp cận nguồn tài trợ. Khi kết quả được các nhóm nghiên cứu khác sử dụng và phát triển tiếp, uy tín học thuật của nhà trường cũng được củng cố. Đó là lợi thế cạnh tranh có nền tảng.

Cần nhìn nhận rằng, tăng số bài không đồng nghĩa thứ hạng sẽ tăng. Chẳng hạn, phương pháp xếp hạng QS xem xét cả ảnh hưởng trích dẫn và danh tiếng học thuật, cùng các phương diện khác của trường đại học. Nếu chỉ tập trung vào số lượng, nhà trường có thể có thêm công bố nhưng chưa chắc hình thành được nhóm nghiên cứu mạnh, chương trình đào tạo tốt hơn hoặc công nghệ được xã hội sử dụng.

Các trường nên sử dụng bảng xếp hạng như một nguồn tham khảo để nhận diện điểm mạnh và khoảng trống cần cải thiện. Mục tiêu lâu dài phải là xây dựng năng lực và uy tín học thuật; thứ hạng có ý nghĩa khi phản ánh được những tiến bộ đó. Mỗi trường cũng cần theo đuổi sứ mạng riêng, thay vì cùng chạy theo một mô hình thành tích.

z7973146860633-d68c5dd25fcb52f1dac4a6fa9f0227b9.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ, Dược sĩ Thái Khắc Minh - Trưởng khoa, Khoa Dược, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển sản phẩm Chăm sóc Sức khỏe, Trường Đại học Khoa học Sức khỏe, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC.

Đầu tư cho nghiên cứu phát triển cần tránh dàn trải

Để nâng cao đồng thời số lượng và chất lượng công bố khoa học, Theo Tiến sĩ Đỗ Đức Hiệp, cần tránh phân bổ nguồn lực dàn trải đi cùng với việc ưu tiên đầu tư đúng đối tượng.

Cơ chế đầu tư cần phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực. Với khoa học xã hội, có thể cần nguồn kinh phí không quá lớn nhưng được duy trì dài hạn để hỗ trợ quá trình nghiên cứu, điền dã và đánh giá kết quả theo từng giai đoạn. Trong khi đó, các dự án khoa học và công nghệ thường cần khoản đầu tư lớn trong thời gian ngắn để phục vụ thí nghiệm, phát triển sản phẩm và đăng ký sáng chế. Do đó, cần phân loại nhiệm vụ nghiên cứu để xây dựng phương thức tài trợ phù hợp.

Đồng thời, phải phát huy đội ngũ nhà khoa học giàu kinh nghiệm, có năng lực chuyên môn và quan tâm bồi dưỡng những nhà nghiên cứu trẻ có tiềm năng. Ngoài ra, cần bảo đảm nguồn lực về thời gian, kinh phí và tạo điều kiện để nhà khoa học tập trung nghiên cứu.

Đề cập đến việc kiểm soát chất lượng khi số lượng công bố khoa học ngày càng tăng, thầy Hiệp chỉ ra, cần chú trọng chất lượng và tác động thực tế của nghiên cứu. Trong giai đoạn đầu, các cơ sở có thể đặt ra chỉ tiêu tối thiểu về số lượng công bố. Khi nhà khoa học đáp ứng yêu cầu này, việc khen thưởng cần căn cứ vào chất lượng bài báo, mức độ trích dẫn, khả năng tạo ra sản phẩm hoặc kết quả ứng dụng thực tiễn. Cùng với đó, rà soát hồ sơ của những nhà khoa học có bài báo bị rút để đánh giá tính liêm chính và thực chất của thành tích nghiên cứu, tránh tình trạng chạy theo số lượng.

Với những công trình đã có kết quả, cần xác định sản phẩm khoa học tạo ra tác động gì, mức độ ứng dụng đến đâu và đóng góp cụ thể như thế nào? Trên cơ sở đó, các cơ sở nghiên cứu có thể xây dựng chỉ tiêu đánh giá theo hướng giảm dần sự phụ thuộc vào số lượng, đồng thời nâng tỷ lệ công trình tạo ra tác động thực tế. Ví dụ, ở giai đoạn này, có thể 10% công trình tạo ra tác động hoặc sản phẩm khoa học cụ thể. Trong những năm tiếp theo, dù tổng số bài báo không tăng, tỷ lệ công trình có kết quả và tác động rõ ràng vẫn cần được nâng lên.

Đi cùng việc đánh giá, khen thưởng nhà khoa học, cần có cơ chế ghi nhận và đầu tư cho các tạp chí khoa học trong nước đạt chuẩn quốc tế. Những đơn vị đáp ứng được yêu cầu về chất lượng cần được ưu tiên hỗ trợ để mở rộng và phát triển. Qua đó, tạo điều kiện cho các nhà khoa học trong nước công bố công trình trên những tạp chí chất lượng cao ngay tại Việt Nam, giảm sự phụ thuộc vào các đơn vị xuất bản nước ngoài.

1000046867-1000.jpg
Tiến sĩ Đỗ Đức Hiệp - Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Ảnh: NVCC.

Dưới góc nhìn của Giáo sư, Tiến sĩ, Dược sĩ Thái Khắc Minh, đầu tư nghiên cứu khoa học hiện nay có một số vấn đề cần được rà soát kỹ: đầu tư có bị phân tán hay không; thiết bị có đủ kinh phí vận hành, bảo trì và người phụ trách chuyên môn; giảng viên có đủ thời gian nghiên cứu; và thủ tục có làm chậm việc mua vật tư, sử dụng dịch vụ hoặc triển khai hợp tác?

"Để tháo gỡ, theo tôi cần đầu tư ổn định theo hướng nghiên cứu và nhóm nghiên cứu trong nhiều năm, có đánh giá giữa kỳ rõ ràng. Các cơ sở nên phát triển hạ tầng dùng chung với cơ chế tiếp cận minh bạch, đồng thời dành nguồn lực cho kỹ thuật viên, nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu sau tiến sĩ. Cơ chế tài chính cần phù hợp hơn với tính bất định của nghiên cứu, đi cùng trách nhiệm giải trình về dữ liệu, tiến độ và chất lượng. Hiệu quả đầu tư cần được xem xét trên toàn bộ quá trình tạo ra tri thức, phát triển con người và đưa kết quả vào sử dụng, với thời gian đánh giá phù hợp từng lĩnh vực" - thầy Minh bày tỏ.

Nhằm đảm bảo chất lượng công bố, Giáo sư, Tiến sĩ, Dược sĩ Thái Khắc Minh phân tích, phải bắt đầu từ khi hình thành đề tài, xuất phát với câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mức độ tin cậy của dữ liệu, năng lực của nhóm nghiên cứu. Khi công trình đã xuất bản mới kiểm tra tên tạp chí thì quá muộn để khắc phục nhiều hạn chế căn bản.

Các trường cần xây dựng văn hóa liêm chính nghiên cứu bằng hướng dẫn cụ thể về quản lý dữ liệu, xác định đóng góp tác giả, công bố xung đột lợi ích và sử dụng công cụ trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm. Đồng thời, phải có đầu mối tiếp nhận phản ánh, quy trình xác minh công bằng và cơ chế đính chính khi phát hiện sai sót.

Đối với tạp chí, cần đánh giá sự phù hợp chuyên ngành, tính minh bạch của quy trình phản biện và uy tín chuyên môn. Việc có tên trong một cơ sở dữ liệu là thông tin tham khảo quan trọng, nhưng không thay thế việc đọc và đánh giá chính công trình. Tương tự, không nên đồng nhất tạp chí thu phí, tạp chí mở với tạp chí kém chất lượng; vấn đề cốt lõi là chuẩn mực biên tập và chất lượng phản biện.

Về đánh giá và khen thưởng, thầy Minh đề xuất, yêu cầu nhà khoa học lựa chọn một số công trình tiêu biểu, giải thích rõ tính mới, đóng góp cá nhân và bằng chứng về ảnh hưởng. Các chỉ số như số bài, trích dẫn hay phân hạng tạp chí nên hỗ trợ cho đánh giá chuyên môn, có xét đặc thù ngành và giai đoạn nghề nghiệp. Không nên mặc định mọi bài trên tạp chí có chỉ số cao đều có đóng góp cao như nhau.

Liên quan đến vấn đề tài trợ, cần dành không gian cho nghiên cứu khám phá có rủi ro, hỗ trợ ổn định cho những nhóm có năng lực, và có nguồn kinh phí tiếp nối cho kết quả triển vọng. Nghiên cứu cơ bản cần được đánh giá về đóng góp tri thức; nghiên cứu ứng dụng cần có bằng chứng về hiệu quả và khả năng sử dụng. Một nghiên cứu được thiết kế tốt nhưng không xác nhận giả thuyết ban đầu vẫn có thể tạo ra tri thức hữu ích.

Thầy Minh nhấn mạnh: "Muốn giảm tình trạng chạy theo số lượng, trước hết phải thay đổi cách ghi nhận thành công. Khi tính mới, độ tin cậy và đóng góp thực chất được đánh giá đúng, nhà khoa học sẽ có điều kiện dành thời gian cho những câu hỏi lớn và những công trình có giá trị lâu dài".

Tài liệu tham khảo:

[1] https://giaoduc.net.vn/giai-doan-2024-2026-so-bai-bao-khoa-hoc-cua-giao-duc-dai-hoc-viet-nam-tang-manh-post263133.gd

Hồng Linh