Chuyên gia phân tích xu hướng tăng số lượng công bố khoa học của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam

18/10/2026 06:25
Hồng Linh
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Sự gia tăng số lượng công bố khoa học là kết quả của quá trình tích lũy nền tảng nghiên cứu trong nhiều năm, cùng với những chính sách thúc đẩy và cơ chế hỗ trợ ngày càng được chú trọng.

Theo Báo cáo kết quả giáo dục đại học 2025-2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đang có xu hướng tăng về số lượng công bố. Cụ thể, số bài báo tăng 17,6%, từ 22.249 bài (năm 2024) lên 26.157 bài (năm 2025). Trong 9 tháng năm 2026, toàn hệ thống ghi nhận 23.717 bài và ước tính cả năm đạt khoảng 31.600 bài. [1]

Các chuyên gia nhận định, số lượng công bố khoa học tăng nhờ nền tảng tích lũy và chính sách thúc đẩy, song cần tiếp tục nâng cao chất lượng nghiên cứu theo hướng thực chất, bền vững.

Nhiều nguyên nhân thúc giáo dục đại học Việt Nam tăng số lượng công bố

Đánh giá về sự gia tăng số lượng công bố khoa học, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Phạm Hùng Hiệp - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục và Chuyển giao tri thức, Trường Đại học Thành Đô chỉ ra: "Xu hướng này đã được hình thành từ khoảng năm 2018 và tiếp tục duy trì trong những năm gần đây. Đặc biệt, năm 2025, Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia cùng Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và trong các trường đại học nói riêng.

Bên cạnh tác động từ chính sách, sau nhiều năm, các cơ sở giáo dục đại học cũng từng bước tìm ra mô hình hoạt động nghiên cứu hiệu quả hơn. Nhiều trường đã thành lập các nhóm nghiên cứu mạnh, có cơ chế hỗ trợ những nhà khoa học có năng lực công bố quốc tế. Công tác đào tạo tiến sĩ và triển khai các đề tài nghiên cứu trong nước cũng ngày càng chuyên nghiệp.

Cùng với những bước đệm đã có từ trước, cộng với các chính sách thúc đẩy và những mô hình hoạt động phù hợp hơn đã tạo đà cho sự tăng trưởng số lượng công bố khoa học như hiện nay".

Đối với vấn đề chuyển hóa các công bố khoa học thành giải pháp, sản phẩm thực tiễn, Tiến sĩ Phạm Hùng Hiệp cho rằng, hệ sinh thái nghiên cứu vô cùng đa dạng, bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và thử nghiệm… Vì vậy, không nên quá đặt nặng yêu cầu mỗi công trình nghiên cứu phải được ứng dụng ngay vào thực tiễn.

Chẳng hạn, nhiều thuật toán được sử dụng trong các ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) hiện nay đã ra đời từ 30-40 năm trước. Điều này cho thấy, khoảng cách từ một kết quả nghiên cứu đến khi được ứng dụng có thể kéo dài nhiều thập kỷ. Quá trình ứng dụng thực tiễn có thể cần kế thừa và phát triển những kết quả nghiên cứu đã được tích lũy từ trước đó.

Những nghiên cứu vừa có giá trị học thuật, vừa có tiềm năng ứng dụng thực tiễn là điều đáng khuyến khích. Tuy nhiên, việc một công trình nếu chỉ tập trung vào nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu ứng dụng cũng là điều bình thường, bởi định hướng và thế mạnh khác nhau của các nhà nghiên cứu.

Dưới góc nhìn của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Vũ Phi Hổ - Tổng biên tập Tạp chí Khoa học Quốc tế TESOL & Education; Biên tập điều hành Tạp chí CALLEJ (Scopus Q1), giảng viên Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, xu hướng tăng trưởng số lượng công bố của giáo dục đại học Việt Nam xuất phát từ nhiều nguyên nhân.

Các trường đại học ngày càng chú trọng cạnh tranh thứ hạng trên các bảng xếp hạng đại học thế giới song song với đẩy mạnh nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu. Vì vậy, nhiều trường bắt đầu siết chặt yêu cầu đối với giảng viên về công bố bài báo khoa học, đưa kết quả nghiên cứu vào việc tính giờ nghiên cứu khoa học.

Giảng viên Việt Nam cũng đã quen thuộc hơn với định dạng và quy trình viết bài báo khoa học quốc tế. Thông qua việc tiếp cận các tạp chí và tham gia hội thảo quốc tế, giảng viên từng bước nâng cao hiểu biết, kỹ năng nghiên cứu và viết bài. Bên cạnh đó, cũng không thể phủ nhận vai trò hỗ trợ của các công cụ trí tuệ nhân tạo, hỗ trợ giảng viên nâng cao chất lượng bài báo khoa học.

Bàn về việc chuyển hóa các công bố khoa học thành giải pháp có giá trị thực tiễn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Vũ Phi Hổ cho rằng, cần nhìn nhận hiệu quả ứng dụng theo đặc thù của từng lĩnh vực nghiên cứu. Đối với các ngành khoa học kỹ thuật, khả năng ứng dụng của kết quả nghiên cứu có thể được nhận diện tương đối rõ ràng. Trong khi đó, với khoa học xã hội, kết quả nghiên cứu thường không thể hiện ngay thành sản phẩm thương mại, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc các công trình này thiếu giá trị thực tiễn.

“Đối với khoa học xã hội, những đóng góp của nghiên cứu có thể không dễ nhận thấy, nhưng trên thực tế, các kết quả này được vận dụng vào nhiều hoạt động cải tiến và phát triển. Ví dụ trong lĩnh vực khoa học giáo dục, các công trình nghiên cứu không nhất thiết hướng đến thương mại hóa, mà có thể đóng góp vào việc xây dựng triết lý giáo dục, cải tiến phương pháp giảng dạy và nâng cao hiệu quả giáo dục. Phần lớn các công bố khoa học đều có thể đóng góp cho thực tiễn, song hình thức và mức độ ứng dụng cần được đánh giá phù hợp với đặc thù của từng ngành" - thầy Hổ chia sẻ.

dsc00383-768x512-1.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Vũ Phi Hổ - Tổng biên tập Tạp chí Khoa học Quốc tế TESOL & Education; Biên tập điều hành Tạp chí CALLEJ (Scopus Q1), giảng viên Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC.

Tạo điều kiện để giảng viên phát triển năng lực nghiên cứu một cách thực chất

Để nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, Tiến sĩ Phạm Hùng Hiệp phân tích, điều kiện quan trọng là phải xây dựng được một hệ sinh thái nghiên cứu đủ mạnh. Trong đó, cần gắn kết đào tạo sau đại học với nghiên cứu khoa học, đồng thời bảo đảm các đề tài, dự án và chương trình nghiên cứu có thời gian triển khai đủ dài.

Ngoài ra, phải cải cách thủ tục hành chính theo hướng thuận lợi hơn cho nhà khoa học, để họ tập trung vào chuyên môn. Về lâu dài, cần chuyển từ cơ chế nhà khoa học phải đi tìm kiếm, xin kinh phí đề tài sang cơ chế Nhà nước và doanh nghiệp chủ động tìm đến, đặt hàng những nhà khoa học có năng lực, uy tín để giải quyết các bài toán lớn.

Theo thầy Hiệp, đây cũng là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và lãnh đạo các cơ sở giáo dục đại học trong việc phát hiện, lựa chọn những nhà khoa học giỏi, giao cho họ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu có ý nghĩa đối với đất nước.

Khi có định hướng và yêu cầu nghiên cứu rõ ràng, các nhà khoa học sẽ có thêm động lực cống hiến, ngay cả khi nguồn lực hoặc cơ sở vật chất chưa thực sự đầy đủ. Cùng với đó, chính sách hỗ trợ cần được thiết kế đồng bộ, không chỉ dành cho cá nhân nhà khoa học mà còn bảo đảm kinh phí cho phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu.

Một vấn đề khác được thầy Hiệp nêu ra là cần có cơ chế thu hút các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia nghiên cứu, đóng góp cho Việt Nam. Theo đó, cần tạo điều kiện để họ tham gia các chương trình nghiên cứu trong thời gian linh hoạt, có thể làm việc ngắn hạn hoặc dài hạn mà không nhất thiết phải thường xuyên có mặt tại Việt Nam; xây dựng môi trường và cơ chế hỗ trợ đủ tốt để các nhà khoa học trẻ có cơ hội phát triển sự nghiệp nghiên cứu trong nước.

Tiến sĩ Phạm Hùng Hiệp trao đổi thêm, đối với các trường đại học, Nhà nước nên có cơ chế phân bổ kinh phí gắn với kết quả hoạt động, qua đó tạo động lực để các cơ sở nâng cao hiệu quả nghiên cứu. Với những nhà khoa học xuất sắc, có uy tín, cần chuyển từ cơ chế để họ tự tìm kiếm kinh phí sang chủ động mời họ tham gia giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu quan trọng. Các nhà khoa học và nhóm nghiên cứu khác cần có thêm cơ hội tiếp cận các quỹ tài trợ cạnh tranh.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh kết nối danh mục đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu giữa các bộ, ngành, địa phương và cơ sở giáo dục đại học nhằm hạn chế tình trạng triển khai những đề tài trùng lặp.

1792140472048-3486136464543697968-3486136464543697968-884e1c56d71cc924dbf93ec8f2bb6a07.jpg
Tiến sĩ Phạm Hùng Hiệp - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục và Chuyển giao tri thức, Trường Đại học Thành Đô. Ảnh: NVCC.

Bàn về mối quan hệ giữa số lượng công bố khoa học, chất lượng nghiên cứu và thứ hạng đại học, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Vũ Phi Hổ phân tích, dù các bảng xếp hạng đại học đánh giá nhiều lĩnh vực với các tiêu chí khác nhau nhưng công bố bài báo khoa học quốc tế vẫn là chỉ số tương đối rõ ràng, có thể góp phần thúc đẩy nhanh chóng thứ hạng của các trường.

Mặc dù vậy, để phát triển bền vững các trường cần chú trọng nâng cao năng lực nghiên cứu của đội ngũ giảng viên, thay vì chỉ tập trung gia tăng số lượng bài báo.

Một trong những vấn đề cần quan tâm là kinh phí hỗ trợ công bố khoa học. Hiện nay, nhiều tạp chí chuyển sang mô hình truy cập mở (open access), trong đó một số tạp chí thu phí xuất bản ở mức cao. Khi nhu cầu công bố quốc tế của các trường đại học ngày càng tăng, chi phí này có thể trở thành gánh nặng đối với giảng viên nếu thiếu sự hỗ trợ từ nhà trường.

Các trường cũng cần tạo điều kiện, hỗ trợ kinh phí để giảng viên tham gia hội thảo quốc tế, trình bày kết quả nghiên cứu và trao đổi học thuật. Thông qua quá trình này, giảng viên có thể từng bước nâng cao kiến thức, kỹ năng nghiên cứu và khả năng công bố quốc tế.

Đặc biệt, thầy Hổ nhấn mạnh: "Yếu tố cốt lõi để nâng cao đồng thời số lượng và chất lượng công bố khoa học nằm ở chính sách nghiên cứu của mỗi trường đại học. Cơ sở giáo dục cần xây dựng chính sách theo hướng khuyến khích, hỗ trợ và nâng cao năng lực nghiên cứu của giảng viên một cách thực chất, thay vì chỉ đặt ra yêu cầu về số lượng bài báo. Khi năng lực được cải thiện, giảng viên sẽ có điều kiện hướng đến những tạp chí có yêu cầu học thuật cao hơn".

Tài liệu tham khảo:

[1]: https://giaoduc.net.vn/giai-doan-2024-2026-so-bai-bao-khoa-hoc-cua-giao-duc-dai-hoc-viet-nam-tang-manh-post263133.gd

Hồng Linh