Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT quy định Chuẩn cơ sở giáo dục đại học. Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/11/2026, thay thế Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT.
Trong đó, Tiêu chí 5.2 về Tuyển sinh và đào tạo trong Thông tư số 83 như sau: Tỷ lệ thôi học trong năm được xác định bằng tỷ lệ người học chưa tốt nghiệp mà không tiếp tục theo học ở năm kế tiếp (không bao gồm người học được phép nghỉ học tạm thời, chuyển chương trình đào tạo, chuyển cơ sở giáo dục) trên tổng số người học có mặt tại thời điểm cuối năm học trước không cao hơn 10%; riêng đối với người học năm học đầu tiên tính trên số người học nhập học lần đầu của khóa tuyển sinh sau khi trừ các trường hợp được loại trừ không cao hơn 15%.
Qua khảo sát ngẫu nhiên của phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam từ Báo cáo thường niên năm gần nhất của một số cơ sở giáo dục đại học trên cả nước cho thấy, tỷ lệ thôi học năm đầu và tỷ lệ thôi học có sự chênh lệch. Cụ thể như sau:
| STT | Tên trường | Tỷ lệ thôi học năm đầu | Tỷ lệ thôi học | Báo cáo thường niên năm/năm học |
| 1 | Đại học Công nghiệp Hà Nội | 5,7% | 3,25% | 2025 |
| 2 | Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) | 1,3% | 7% | 2026 |
| 3 | Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) | 0,92% | 1,53% | 2025 - 2026 |
| 4 | Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang | 4,06% | 15,8% | 2026 |
| 5 | Trường Đại học Dược Hà Nội | 2,9% | 0,72% | 2025 |
| 6 | Trường Đại học Y Hà Nội | 0,55% | 0,60% | 2026 |
| 7 | Trường Đại học Y Thái Bình | 3,92% | 1,18% | 2026 |
| 8 | Trường Đại học Hồng Đức | 3,64% | 7,55% | 2026 |
| 9 | Trường Đại học Vinh | 11,67% | 6,97% | 2026 |
| 10 | Trường Đại học Khoa học (Đại học Huế) | 3,82% | 10,7% | 2025 |
| 11 | Trường Đại học Luật (Đại học Huế) | 10,7% | 7,7% | 2026 |
| 12 | Trường Đại học Nha Trang | 0,13% | 8,65% | 2025 |
| 13 | Trường Đại học Đà Lạt | 4,63% | 16,33% | 2026 |
| 14 | Trường Đại học Lạc Hồng | 8,6% | 8,61% | 2025 |
| 15 | Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) | 6,8% | 8,67% | 2026 |
| 16 | Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh | 5,77% | 9,61% | 2025 |
| 17 | Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh | 4,2% | 18,11% | 2025-2026 |
| 18 | Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh | 14,67% | 8,73% | 2025 |
| 19 | Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng | 7,31% | 4,41% | 2025 |
| 20 | Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh | 2,14% | 15,08% | 2025 |
| 21 | Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh | 0,62% | 3,52% | 2025 |
| 22 | Trường Đại học Gia Định | 4,95% | 10,43% | 2025 |
| 23 | Trường Đại học Thủ Dầu Một | 2,62% | 5,65% | 2025 |
| 24 | Trường Đại học Bình Dương | 12,25% | 7,27% | 2026 |
| 25 | Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Vĩnh Long | 3,4% | 5,37% | 2026 |
Thống kê cho thấy, trong số trường mà Tạp chí thống kê, đơn vị tỷ lệ thôi học cao nhất là Trường Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh (18,11%). Tiếp đến là Trường Đại học Đà Lạt (16,33%) và Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang (15,8%).
Ngược lại, một số trường có tỷ lệ sinh viên thôi học ở mức thấp. Cụ thể, Trường Đại học Y Hà Nội ghi nhận 0,6%; Trường Đại học Dược Hà Nội là 0,72% và Trường Đại học Y Thái Bình là 1,18%.
Trong khi đó, tỷ lệ thôi học năm đầu ở Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh lên tới 14,67%.
Trường có tỷ lệ thôi học năm đầu thấp nhất theo thống kê là Trường Đại học Nha Trang, với tỷ lệ thôi học năm đầu chỉ 0,13%. Kế đến là Trường Đại Y Hà Nội với 0,55% và Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh với 0,62%.
Dựa vào số liệu trong thống kê, phóng viên đã liên hệ tới đại diện một số cơ sở giáo dục đại học để chỉ ra nguyên nhân và giải pháp để giảm tỷ lệ thôi học và tỷ lệ thôi học sau năm đầu.
Trách nhiệm không chỉ thuộc về người học, mà còn là bài toán quản trị của các trường đại học
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Song - Quyền Hiệu trưởng Trường Đại học Gia Định cho rằng, cần nhìn nhận vấn đề sinh viên bỏ học đại học mỗi năm một cách toàn diện, từ công tác hướng nghiệp, tuyển sinh, chất lượng đào tạo đến trách nhiệm đồng hành của các cơ sở giáo dục đại học.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Song - Quyền Hiệu trưởng Trường Đại học Gia Định Ảnh: website nhà trường.
Thành công của một trường đại học không chỉ được đo bằng số lượng sinh viên tuyển vào, mà quan trọng hơn là số sinh viên được hỗ trợ học tập thành công, tốt nghiệp và có khả năng phát triển nghề nghiệp bền vững.
Tỷ lệ sinh viên thôi học và thôi học sau năm thứ nhất cao là một hiện tượng đáng quan tâm, phản ánh những khó khăn trong quá trình chuyển tiếp từ giáo dục phổ thông sang giáo dục đại học. Đây không đơn thuần là vấn đề năng lực học tập của sinh viên mà là kết quả tác động tổng hợp của nhiều yếu tố. Trong đó, một số nguyên nhân nổi bật dẫn đến việc hàng chục ngàn sinh viên thôi học đại học mỗi năm có thể kể đến như:
Thứ nhất, sự khác biệt giữa phương pháp học tập ở phổ thông và đại học. Môi trường đại học đòi hỏi khả năng tự học, tư duy độc lập, quản lý thời gian và tinh thần tự chịu trách nhiệm cao hơn. Trong khi đó, một bộ phận sinh viên chưa được chuẩn bị đầy đủ những kỹ năng này nên gặp khó khăn ngay trong học kỳ đầu tiên, đặc biệt đối với những học phần có yêu cầu cao về toán học, ngoại ngữ, công nghệ và tư duy chuyên ngành.
Thứ hai, áp lực tài chính. Bên cạnh học phí, sinh viên còn phải trang trải chi phí sinh hoạt, đi lại, tài liệu và các khoản chi phí khác. Khi điều kiện kinh tế gia đình thay đổi, một số em buộc phải đi làm thêm nhiều giờ, ảnh hưởng đến kết quả học tập, thậm chí phải tạm dừng việc học.
Thứ ba, công tác tư vấn, hỗ trợ và cảnh báo sớm của một số cơ sở đào tạo chưa thực sự hiệu quả. Nếu nhà trường chỉ quan tâm đến tuyển sinh mà chưa đầu tư tương xứng cho hoạt động hỗ trợ người học sau nhập học, những khó khăn ban đầu của sinh viên có thể tích tụ và dẫn đến quyết định thôi học.
Vị hiệu trưởng nhấn mạnh, năm thứ nhất là giai đoạn bản lề, quyết định rất lớn đến khả năng tiếp tục học tập và hoàn thành chương trình của sinh viên. Vì vậy, các trường đại học cần chuyển từ tư duy xử lý sinh viên có nguy cơ thôi học sang tư duy chủ động phát hiện và hỗ trợ ngay từ những tuần học đầu tiên.
Cùng chung quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Bá Thìn - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức chỉ ra khó khăn lớn nhất của sinh viên năm thứ nhất là phải thích nghi với nhiều thay đổi cùng lúc như cách học mới, môi trường sống mới và yêu cầu tự lập cao hơn. Ở bậc phổ thông, học sinh thường được thầy cô, gia đình theo sát, nhưng khi vào đại học, các em phải chủ động hơn trong việc học và tự chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Nếu chưa chuẩn bị tốt, sinh viên rất dễ lúng túng, học tập sa sút rồi mất dần động lực và dẫn tới bỏ học.
Một nguyên nhân khác là lựa chọn ngành học chưa phù hợp. Có sinh viên đến khi vào học mới hiểu ngành mình đã chọn, nhận ra nội dung và yêu cầu đào tạo khác với hình dung ban đầu hoặc chưa phù hợp với năng lực, sở thích. Cùng với đó, những hạn chế về kiến thức nền tảng, kỹ năng tự học, áp lực tài chính, tâm lý hay hoàn cảnh gia đình có thể khiến các em khó tiếp tục theo học. Những yếu tố này thường đan xen, nên cần tìm hiểu từng trường hợp thay vì quy về một nguyên nhân chung.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Bá Thìn - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức. Ảnh: website nhà trường
Thầy Thìn cho rằng, về phía các cơ sở đào tạo, cũng phải nhìn nhận trách nhiệm của mình. “Các trường cần lưu ý việc tư vấn tuyển sinh đã giúp người học hiểu đúng ngành học chưa? Cách tổ chức giảng dạy và hỗ trợ trong năm đầu đã đáp ứng nhu cầu của sinh viên chưa? Khi các em gặp khó khăn, nhà trường có phát hiện và hỗ trợ kịp thời không? Đây là những vấn đề cần được rà soát nghiêm túc.
Đồng thời, cần phân biệt sinh viên tự nguyện thôi học, bị buộc thôi học với những em chuyển ngành, chuyển trường hoặc lựa chọn một hướng đi khác. Bởi, phải hiểu đúng lý do sinh viên rời trường mới có thể đưa ra giải pháp phù hợp”, thầy Thìn bày tỏ.
Trong khi đó, Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân - Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cho hay, nhận định có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc sinh viên bỏ học mỗi năm. Có trường nguyên nhân chính là học phí, nơi lại do nguyện vọng trúng tuyển chưa phải là nguyện vọng mong muốn của sinh viên. Trong khi đó, có trường nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ việc sinh viên chỉ muốn trúng tuyển làm bước đệm cho du học.
Cũng theo thầy Nhân, việc sinh viên nghỉ học giữa chừng là một sự lãng phí nguồn lực về mặt tổng thể. Tuy nhiên, nguyên nhân này đến từ nhiều phía, trong đó có cả yếu tố chủ quan của người học và thông tin mà người học trước khi quyết định chưa chính xác, đầy đủ. Về phía trường đại học, hiện nay hầu hết các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập cũng đang thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để “giữ chân” người học, bởi đây là yếu tố quan trọng để khẳng định thương hiệu.
Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân - Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.
Kịp thời hỗ trợ và xây dựng hệ thống cảnh báo sớm nguy cơ thôi học
Là đơn vị có tỷ lệ sinh viên thôi học năm đầu thấp, với chỉ 0,62%, theo thầy Nguyễn Trung Nhân, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh luôn quan tâm và tìm mọi phương án để nâng cao chất lượng đào tạo trong đó có giảm tỷ lệ sinh viên thôi học và thôi học sau năm đầu. Cụ thể, trường có hệ thống giảng viên cố vấn học tập được phân công cho từng lớp từ khi các em trở thành sinh viên của nhà trường. Sau mỗi học kỳ, đội ngũ cố vấn học tập này đều có tổng hợp kết quả học tập, rèn luyện của sinh viên cũng như các vấn đề khác để nắm bắt từng sinh viên và có chiến lược hỗ trợ, tư vấn, động viên.
Ngoài ra, để giảm tỷ lệ thôi học nói chung và tỷ lệ thôi học năm thứ nhất, thầy Nhân cho rằng, cần nâng cao chất lượng công tác truyền thông giáo dục ở bậc trung học phổ thông để các phụ huynh và các em học sinh hiểu được là không nên vào đại học bằng mọi giá. Bên cạnh đó nên tư vấn, thông tin cho học sinh biết trước những khó khăn, thách thức của một ngành học, hoặc một môi trường nào đó.
Hơn nữa, phải tăng cường nguồn quỹ, đơn giản thủ tục để sinh viên dễ dàng tiếp cận với các gói hỗ trợ giáo dục.
Cuối cùng, các trường đại học cần tăng cường công tác tư vấn cá nhân hóa cho sinh viên ngay từ khi mới bước vào giảng đường cũng như tạo thêm các chính sách để hỗ trợ tân sinh viên.
Cùng bàn về giải pháp giảm tỷ lệ thôi học của sinh viên, thầy Phạm Văn Song cho biết, tại Trường Đại học Gia Định, nhà trường xác định việc nâng cao chất lượng đào tạo và chăm sóc, đồng hành cùng sinh viên là những ưu tiên quan trọng trong định hướng phát triển.
Quan điểm của trường là không đợi đến khi sinh viên có quyết định thôi học mới tìm cách hỗ trợ, mà cần nhận diện những khó khăn và nguy cơ ngay từ khi các em bắt đầu hành trình đại học.
Theo định hướng đó, nhà trường tập trung vào một số nhóm giải pháp, nổi bật có thể kể đến là nâng cao chất lượng tư vấn hướng nghiệp và tuyển sinh. Nhà trường chú trọng cung cấp thông tin rõ ràng về chương trình đào tạo, yêu cầu học tập, chi phí và cơ hội nghề nghiệp, giúp người học lựa chọn ngành học phù hợp ngay từ đầu. Hoạt động tuyển sinh cần hướng tới tuyển đúng người học phù hợp với ngành đào tạo, thay vì chỉ đơn thuần là đạt chỉ tiêu số lượng.
Cùng với đó, nhà trường tăng cường các chương trình hỗ trợ sinh viên năm nhất, đặc biệt là kỹ năng học đại học, phương pháp tự học, quản lý thời gian, kỹ năng số và khả năng thích nghi với môi trường mới.
Cũng theo thầy Song, để giảm tỷ lệ sinh viên thôi học, đối với các trường đại học, điều đầu tiên cần thay đổi là quan điểm về chất lượng tuyển sinh. Không nên chỉ đánh giá thành công của công tác tuyển sinh bằng số lượng thí sinh nhập học, mà cần gắn với khả năng học tập, mức độ phù hợp ngành nghề và tỷ lệ duy trì người học sau năm thứ nhất.
Các trường cần nâng cao chất lượng tư vấn hướng nghiệp, công khai đầy đủ thông tin chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, học phí toàn khóa và điều kiện học tập. Đồng thời, cần tổ chức các chương trình hỗ trợ chuyển tiếp từ phổ thông lên đại học, bổ trợ kiến thức nền tảng và phát triển kỹ năng tự học.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Song đề xuất xây dựng hệ thống cảnh báo sớm nguy cơ thôi học dựa trên dữ liệu, kết hợp kết quả học tập, mức độ tham gia lớp học và các tín hiệu cần hỗ trợ. Tuy nhiên, cảnh báo phải đi kèm hành động hỗ trợ cụ thể, bởi công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi giúp nhà trường quan tâm đến sinh viên tốt hơn, thay vì đơn thuần tạo thêm các báo cáo thống kê. Tại Trường Đại học Gia Định, nhà trường đã thực hiện hệ thống này từ đầu năm học này 2026-2027.
Ngoài ra, đối với phụ huynh, các bậc cha mẹ sẽ đóng vai trò đồng hành và định hướng thay vì quyết định thay con. Một ngành học được xã hội đánh giá cao chưa chắc đã phù hợp với năng lực và mong muốn của từng cá nhân. Sự lựa chọn phù hợp và khả năng theo đuổi đến cùng quan trọng hơn danh tiếng nhất thời của một ngành học.
Trong khi đó thầy Đậu Bá Thìn cho biết, để hỗ trợ sinh viên và giảm tỷ lệ thôi học, nhà trường đã ban hành quy định về công tác cố vấn học tập, xác định rõ nhiệm vụ theo dõi kết quả học tập, rèn luyện, nhắc nhở khi kết quả giảm sút và tư vấn đăng ký học phần. Từ đó, cố vấn học tập có cơ sở trao đổi với sinh viên, giúp các em điều chỉnh kế hoạch học tập phù hợp với năng lực và điều kiện thực tế. Với sinh viên năm thứ nhất, sự hướng dẫn này có ý nghĩa thiết thực vì các em còn chưa quen với cách tổ chức học tập ở đại học.
Nhà trường xác định hiệu quả hỗ trợ phải thể hiện ở việc sinh viên tháo gỡ được khó khăn và tiếp tục học tập. Vì vậy, thời gian tới cần tiếp tục nâng cao hiệu quả phối hợp, nhất là khả năng phát hiện sớm những em có nguy cơ gián đoạn việc học. Mỗi trường hợp thôi học cũng cần được phân tích cụ thể để biết khâu nào còn hạn chế và điều chỉnh cách hỗ trợ. Đây là công việc cần làm thường xuyên, có theo dõi kết quả.
Cũng theo thầy Thìn, để giảm tình trạng thôi học sau năm thứ nhất, thì việc hỗ trợ phải bắt đầu từ trước khi sinh viên nhập trường và được duy trì trong suốt quá trình học. Đến khi sinh viên xin thôi học mới tìm hiểu nguyên nhân thì nhiều khó khăn có thể đã kéo dài và khó giải quyết hơn.
Trước hết, khi sinh viên nhập học, các trường cần hướng dẫn thiết thực về phương pháp học đại học, kỹ năng tự học, quản lý thời gian và lập kế hoạch chi tiêu. Việc tìm hiểu kiến thức nền tảng và nhu cầu hỗ trợ ngay từ đầu cũng giúp nhà trường có biện pháp phù hợp, tránh để những thiếu hụt ban đầu kéo dài sang các học kỳ sau.
Trong quá trình học, vai trò của cố vấn học tập rất quan trọng. Những dấu hiệu như nghỉ học nhiều, chậm đăng ký học phần, không hoàn thành nhiệm vụ học tập hoặc kết quả giảm sút cần được theo dõi và trao đổi sớm. Một thông báo cảnh báo chỉ có ý nghĩa khi đi kèm với việc giúp sinh viên hiểu vấn đề và biết mình cần làm gì, có thể tìm sự hỗ trợ ở đâu.
Cùng với hỗ trợ học tập, các trường cần quan tâm tư vấn tâm lý, học bổng và kết nối nguồn hỗ trợ tài chính. Chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, cách đánh giá cũng phải được rà soát để yêu cầu học tập rõ ràng và sinh viên có điều kiện đáp ứng. Mục tiêu là giúp các em học được, tiến bộ và đạt chuẩn đầu ra; giảm tỷ lệ thôi học phải gắn với bảo đảm chất lượng đào tạo.