Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT quy định Chuẩn cơ sở giáo dục đại học. Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/11/2026, thay thế Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT ngày 05/02/2024 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học.
Trong đó, Tiêu chí 5.2 về Tuyển sinh và đào tạo trong Thông tư số 83 như sau: Tỷ lệ thôi học trong năm được xác định bằng tỷ lệ người học chưa tốt nghiệp mà không tiếp tục theo học ở năm kế tiếp (không bao gồm người học được phép nghỉ học tạm thời, chuyển chương trình đào tạo, chuyển cơ sở giáo dục) trên tổng số người học có mặt tại thời điểm cuối năm học trước không cao hơn 10%; riêng đối với người học năm học đầu tiên tính trên số người học nhập học lần đầu của khóa tuyển sinh sau khi trừ các trường hợp được loại trừ không cao hơn 15%.
Trước đó, Thông tư số 01 quy định: Tỷ lệ thôi học, được xác định bằng tỷ lệ người học chưa tốt nghiệp mà không tiếp tục theo học hằng năm, không cao hơn 10% và riêng đối với người học năm đầu không cao hơn 15%.
Dù chỉ số cần đạt không thay đổi nhưng quy định làm rõ cách xác định sinh viên thôi học, góp phần bảo đảm tính thống nhất, minh bạch trong đánh giá chất lượng đào tạo.
Xác định tỷ lệ sinh viên thôi học sát thực tế hơn
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Nhà giáo ưu tú, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lương Minh Cừ - Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Cửu Long đánh giá, Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT về Chuẩn cơ sở giáo dục đại học được xây dựng trên 5 nhóm tiêu chuẩn, gồm tổ chức và quản trị; giảng viên; cơ sở vật chất, học liệu và hạ tầng số; tài chính; tuyển sinh và đào tạo. Các tiêu chuẩn này có mối liên hệ chặt chẽ, phản ánh toàn diện điều kiện bảo đảm chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ sở giáo dục đại học.
“Tôi cho rằng, quy định này sẽ phản ánh sát hơn số sinh viên thực sự không tiếp tục học tại trường. Đồng thời góp phần nâng cao tính minh bạch trong đánh giá chất lượng đào tạo giúp phân biệt rõ giữa sinh viên thực sự thôi học với những trường hợp tạm dừng hoặc chuyển đổi quá trình học tập.
Qua đó, các trường có thể đánh giá đúng hơn hiệu quả tuyển sinh, công tác quản lý và hỗ trợ người học; đồng thời chủ động xây dựng các giải pháp tư vấn học tập, hỗ trợ tài chính, định hướng nghề nghiệp và đồng hành cùng sinh viên nhằm hạn chế tình trạng thôi học.
Quan trọng hơn, tỷ lệ thôi học không chỉ là một chỉ số để đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục đại học, mà còn phản ánh trách nhiệm của nhà trường trong việc tạo điều kiện để người học theo đuổi và hoàn thành chương trình đào tạo. Vì vậy, các trường cần xem đây là cơ sở để cải tiến chất lượng đào tạo và nâng cao hiệu quả hỗ trợ sinh viên, thay vì chỉ tập trung đáp ứng ngưỡng tỷ lệ theo quy định” – thầy Cừ bày tỏ.
Cùng bàn luận về chủ đề này, Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh - Đại biểu Quốc hội chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng cho rằng, điểm mới đáng chú ý của Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT đã cụ thể hóa cách xác định tỷ lệ thôi học theo hướng rõ hơn về đối tượng được tính, mẫu số tính tỷ lệ và các trường hợp không được tính là thôi học. Cách quy định này giúp phân biệt rõ hơn giữa việc người học thực sự rời bỏ quá trình đào tạo với những trường hợp gián đoạn hoặc thay đổi lộ trình học tập nhưng vẫn tiếp tục theo đuổi việc học.
“Ý nghĩa quan trọng của thay đổi này là nâng cao tính minh bạch, nhất quán và khả năng kiểm chứng của dữ liệu. Khi đối tượng tính toán và mẫu số được xác định rõ hơn, các cơ sở đào tạo sẽ có cơ sở thống nhất hơn trong thống kê, báo cáo và tự đánh giá chất lượng; cơ quan quản lý cũng có điều kiện thuận lợi hơn để đối chiếu dữ liệu giữa các cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, để khẳng định mức độ cải thiện trên thực tế, cần xem xét thêm hướng dẫn về phương pháp thống kê, quy trình cập nhật dữ liệu và cách xử lý các tình huống phát sinh” – bà Tú Anh cho hay.
Theo bà Tú Anh, đối với sinh viên, việc loại trừ các trường hợp nghỉ học tạm thời được phép, chuyển chương trình hoặc chuyển cơ sở giáo dục có ý nghĩa tích cực. Những người học này không bị mặc nhiên xem là thôi học chỉ vì không tiếp tục học tại chương trình hoặc cơ sở đào tạo ban đầu. Điều đó phù hợp hơn với thực tế giáo dục đại học, khi người học có thể cần tạm dừng việc học vì lý do cá nhân, thay đổi định hướng nghề nghiệp hoặc lựa chọn chương trình phù hợp hơn với năng lực và nhu cầu của mình.
Đối với các cơ sở đào tạo, quy định mới đặt ra yêu cầu cao hơn về quản lý dữ liệu người học trong toàn bộ quá trình đào tạo. Nhà trường cần theo dõi được tình trạng học tập của từng sinh viên, phân biệt người đang học, người được phép nghỉ học tạm thời, người chuyển chương trình, chuyển cơ sở giáo dục và người thực sự không tiếp tục theo học.
Việc quản lý không thể chỉ dừng ở số liệu tuyển sinh và số sinh viên còn tên trong danh sách, mà phải bảo đảm dữ liệu phản ánh đúng diễn biến học tập thực tế. Mặt khác, tỷ lệ thôi học thấp không đồng nghĩa trong mọi trường hợp với chất lượng đào tạo cao. Tỷ lệ này có thể chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như chất lượng đầu vào, mức độ phù hợp giữa ngành học và nguyện vọng của người học, điều kiện kinh tế gia đình, chất lượng giảng dạy, phương pháp tổ chức đào tạo và hiệu quả của các dịch vụ hỗ trợ sinh viên. Do đó, nếu chỉ tập trung đáp ứng ngưỡng tỷ lệ mà không phân tích nguyên nhân, cơ sở đào tạo có thể bỏ qua những vấn đề thực chất cần được giải quyết.
Tiến sĩ, Luật sư Đặng Văn Cường - giảng viên Khoa Luật và Lý luận chính trị, Trường Đại học Thủy Lợi bày tỏ: “Tôi cho rằng, việc sửa đổi Tiêu chí 5.2 theo Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT là bước điều chỉnh theo hướng cụ thể hóa phương pháp thống kê, nâng cao tính chính xác, khách quan và khả năng so sánh trong đánh giá chất lượng giáo dục đại học.
Một sinh viên được phép bảo lưu hoặc nghỉ học tạm thời chưa thể bị xem là đã thôi học, bởi người đó vẫn có thể tiếp tục chương trình sau thời gian được phép nghỉ. Tương tự, sinh viên chuyển sang chương trình đào tạo khác hoặc chuyển cơ sở giáo dục không đồng nghĩa với việc từ bỏ học tập trong hệ thống giáo dục đại học”.
Theo thầy Cường, tác động của quy định này cần được nhìn nhận trên cả ba phương diện: quyền và lợi ích của sinh viên, trách nhiệm quản trị của cơ sở đào tạo và hiệu quả quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học.
Đối với sinh viên, việc loại trừ những trường hợp nghỉ học tạm thời, chuyển chương trình hoặc chuyển cơ sở giáo dục có ý nghĩa tích cực. Những người học có lý do chính đáng để tạm dừng hoặc thay đổi quá trình học tập sẽ không bị đánh đồng với những người thực sự chấm dứt việc học. Cách tiếp cận này phản ánh sát hơn thực tế học tập, đồng thời góp phần bảo đảm tính công bằng trong đánh giá hoạt động đào tạo.
Trong thực tế, sinh viên có thể gặp khó khăn về tài chính, sức khỏe, hoàn cảnh gia đình hoặc nhận thấy chương trình đào tạo chưa phù hợp với định hướng nghề nghiệp. Việc tạm thời gián đoạn hoặc chuyển chương trình không nhất thiết đồng nghĩa với thất bại trong học tập. Một hệ thống giáo dục có chất lượng cần tạo điều kiện để người học có cơ hội điều chỉnh lộ trình, thay vì chỉ đánh giá kết quả bằng việc họ có tiếp tục học đúng chương trình ban đầu hay không.
Đối với các trường đại học, quy định mới đòi hỏi phải quản lý hồ sơ người học chặt chẽ hơn, cập nhật chính xác tình trạng học tập, thời điểm nghỉ học, chuyển chương trình, chuyển cơ sở và việc tiếp tục học tập. Các cơ sở đào tạo cần xây dựng quy trình thống nhất giữa phòng đào tạo, phòng công tác sinh viên và bộ phận quản lý dữ liệu, bảo đảm số liệu báo cáo có căn cứ và có thể kiểm chứng.
Đặc biệt, cơ sở đào tạo không nên chỉ quan tâm đến việc đáp ứng tỷ lệ. Điều quan trọng hơn là phải nhận diện nguyên nhân khiến sinh viên thôi học để có giải pháp phòng ngừa. Nếu sinh viên rời trường do học phí vượt quá khả năng chi trả, thiếu hỗ trợ tâm lý, khó khăn trong phương pháp học tập, chất lượng giảng dạy chưa đáp ứng kỳ vọng hoặc chương trình đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu nghề nghiệp, nhà trường cần có biện pháp khắc phục thực chất.
Ở góc độ quản lý nhà nước, cách xác định rõ hơn sẽ góp phần nâng cao độ tin cậy của dữ liệu, tạo điều kiện so sánh kết quả giữa các cơ sở đào tạo và phục vụ việc hoạch định chính sách. Dữ liệu chính xác cũng giúp cơ quan quản lý phân biệt giữa tình trạng sinh viên thực sự bỏ học với việc người học chủ động chuyển hướng để tìm kiếm chương trình phù hợp hơn.
Dù vậy, việc thay đổi công thức thống kê không tự động làm giảm tỷ lệ thôi học thực tế. Nếu số liệu giảm do loại trừ đúng các trường hợp không thuộc diện thôi học thì đó là sự cải thiện về độ chính xác của phép đo, chứ không đồng nghĩa với việc chất lượng đào tạo đã tăng lên. Muốn giảm tình trạng sinh viên bỏ học, các trường vẫn phải cải thiện chất lượng giảng dạy, tư vấn học tập, hỗ trợ tài chính và môi trường học đường.
Nhà trường cần chủ động phát hiện sớm sinh viên có nguy cơ thôi học
Theo thầy Cừ, cơ sở đào tạo không nên chờ đến khi tổng kết năm học mới thống kê tỷ lệ thôi học, mà phải theo dõi và hỗ trợ sinh viên ngay từ đầu khóa. Khi dữ liệu được quản lý chính xác, nguy cơ được phát hiện sớm và các chính sách hỗ trợ được triển khai đúng đối tượng, nhà trường vừa có thể đáp ứng yêu cầu của Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, vừa nâng cao chất lượng đào tạo và tạo điều kiện để sinh viên hoàn thành chương trình học.
Để đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học mới, các trường cần chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm kiểm soát tỷ lệ thôi học và nâng cao chất lượng đào tạo.
Trước hết, cần chuẩn hóa dữ liệu và theo dõi sát tình hình học tập của sinh viên. Nhà trường cần thống kê chính xác số sinh viên đang học, thôi học, nghỉ học tạm thời, chuyển chương trình hoặc chuyển cơ sở giáo dục; đồng thời theo dõi tỷ lệ thôi học theo từng khóa, ngành và năm học. Đây là cơ sở để phát hiện những bất thường, phân tích nguyên nhân và có biện pháp can thiệp kịp thời.
Cùng với đó, các trường cần chủ động phát hiện, hỗ trợ sinh viên có nguy cơ thôi học. Những khó khăn về tài chính, kết quả học tập yếu, chưa thích nghi với môi trường đại học hoặc lựa chọn ngành học chưa phù hợp đều có thể khiến sinh viên bỏ dở chương trình. Vì vậy, cần tăng cường phối hợp giữa các đơn vị chức năng, khoa chuyên môn và cố vấn học tập để nắm bắt tình hình, tư vấn và hỗ trợ người học.
“Chẳng hạn, tại Trường Đại học Cửu Long, lãnh đạo trường chỉ đạo Phòng Công tác chính trị sinh viên phối hợp với các khoa chuyên môn và cố vấn học tập phát hiện sớm những trường hợp nghỉ học kéo dài, nợ học phần hoặc có nguy cơ không đủ điều kiện tiếp tục học. Trên cơ sở đó, nhà trường tư vấn, tổ chức phụ đạo và hỗ trợ kịp thời.
Một giải pháp quan trọng khác là nâng cao chất lượng tư vấn tuyển sinh và định hướng nghề nghiệp. Thí sinh cần được cung cấp đầy đủ thông tin về chương trình đào tạo, yêu cầu học tập, cơ hội việc làm và năng lực phù hợp với từng ngành. Các hoạt động trải nghiệm phòng thực hành, tham quan môi trường học tập, giao lưu với sinh viên sẽ giúp các em lựa chọn ngành học sát với năng lực và sở thích, hạn chế tình trạng nhập học rồi bỏ dở vì chọn sai ngành” – thầy Cừ bày tỏ.
Bên cạnh đó, thầy Cừ cho rằng cần quan tâm hơn đến hỗ trợ tài chính và kết nối việc làm cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Nhà trường có thể chủ động kết nối học bổng, chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ chỗ ở và việc làm phù hợp; đồng thời tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, tạo cơ hội thực tập để sinh viên hiểu rõ hơn giá trị thực tiễn của chương trình đào tạo.
Ngoài ra, các trường cần nâng cao trách nhiệm giải trình và sử dụng dữ liệu trong quản trị đào tạo. Tỷ lệ thôi học cần được phân tích định kỳ, gắn với nguyên nhân cụ thể. Khi một ngành có tỷ lệ sinh viên thôi học tăng bất thường, nhà trường cần rà soát toàn diện từ công tác tuyển sinh, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy đến hoạt động hỗ trợ người học để có điều chỉnh phù hợp.
Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh cho rằng, để quy định mới phát huy hiệu quả, cần chú ý một số vấn đề.
Các trường cần thống nhất cách thống kê và xác định sinh viên thôi học, từ thời điểm ghi nhận sinh viên ngừng học đến việc xác định các trường hợp chuyển ngành, chuyển trường hoặc đã nghỉ học trên thực tế nhưng chưa hoàn tất thủ tục. Nếu mỗi trường áp dụng một cách khác nhau, số liệu sẽ khó đối chiếu và so sánh.
Bên cạnh đó, cần bảo đảm số liệu phản ánh đúng thực tế. Việc loại trừ các trường hợp khỏi tỷ lệ thôi học phải có căn cứ và hồ sơ kiểm chứng rõ ràng, tránh tình trạng phân loại không đúng để giảm tỷ lệ trên báo cáo trong khi chất lượng đào tạo chưa được cải thiện.
Bà Tú Anh cũng lưu ý, không nên chỉ dựa vào tỷ lệ thôi học để đánh giá chất lượng một trường đại học. Chỉ số này cần được xem xét cùng tỷ lệ tốt nghiệp, kết quả học tập và các điều kiện bảo đảm chất lượng khác. Đặc biệt, với sinh viên năm thứ nhất, các trường cần tìm hiểu nguyên nhân nghỉ học để có giải pháp phù hợp như tư vấn hướng nghiệp, hỗ trợ học tập, tài chính và tăng cường công tác cố vấn học tập.
Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT đã làm rõ hơn cách xác định tỷ lệ thôi học. Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện còn phụ thuộc vào tính chính xác của số liệu và việc sử dụng kết quả để cải thiện chất lượng đào tạo. Mục tiêu không chỉ là giảm tỷ lệ thôi học trên báo cáo, mà còn là giúp sinh viên chọn đúng ngành, được hỗ trợ kịp thời và có điều kiện hoàn thành chương trình học.
Theo thầy Cường, các trường cần chuyển từ tư duy quản lý theo kết quả thống kê sang quản trị chất lượng dựa trên nguyên nhân. Mỗi trường nên phân tích tỷ lệ thôi học theo khóa tuyển sinh, ngành đào tạo, năm học và nhóm nguyên nhân, trong phạm vi dữ liệu được phép xử lý. Trên cơ sở đó, nhà trường có thể nhận diện những điểm nghẽn trong tuyển sinh, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và công tác hỗ trợ sinh viên.
"Tôi cho rằng, mục tiêu cuối cùng của chuẩn cơ sở giáo dục đại học không phải là tạo ra những con số đẹp trong báo cáo, mà là bảo đảm người học được tiếp cận một môi trường giáo dục có chất lượng, có cơ hội hoàn thành chương trình và có năng lực tham gia thị trường lao động. Một trường đại học thực sự có trách nhiệm không chỉ tìm cách giữ sinh viên ở lại bằng mọi giá, mà phải giúp người học lựa chọn đúng ngành nghề, có đủ điều kiện học tập và nhận được sự hỗ trợ cần thiết để hoàn thành mục tiêu của mình.
Vì vậy, Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT sẽ phát huy hiệu quả khi việc chuẩn hóa số liệu đi cùng với cải tiến chất lượng đào tạo và nâng cao trách nhiệm giải trình. Khi đó, tỷ lệ thôi học không chỉ là một chỉ số để kiểm tra mức độ đáp ứng chuẩn, mà còn trở thành căn cứ giúp các trường nhận diện vấn đề và cải thiện chất lượng giáo dục một cách thực chất" - thầy Cường cho hay.