Tính tổ trưởng, tổ phó vào định mức GV: Hiệu trưởng lo biên chế đủ trên giấy, thiếu trên thực tế

01/11/2026 06:38
Trần Trang

GDVN -Theo lãnh đạo nhà trường, quy định cần tính đến đặc thù trường học sau sáp nhập, quy mô điểm trường và khối lượng công việc kiêm nhiệm của giáo viên.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố dự thảo Thông tư quy định định mức số lượng người làm việc trong cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập, dự bị đại học (thay thế Thông tư số 19/2023/TT-BGDĐT và Thông tư số 20/2023/TT-BGDĐT).

Trong đó, dự thảo quy định số lượng tổ trưởng, tổ phó tổ chuyên môn, tổ văn phòng và tổ giáo dục đặc thù (nếu có) được tính trong số lượng người làm việc ở các vị trí việc làm giáo viên và vị trí việc làm hỗ trợ đã được giao cho cơ sở giáo dục. Theo đó, không bố trí riêng số lượng người làm việc cho các vị trí này.

Về số lượng tổ phó, đối với cơ sở giáo dục không có phân hiệu, tổ chuyên môn hoặc tổ đặc thù có từ 7 đến 9 người được bố trí 1 tổ phó; từ 10 người trở lên được bố trí không quá 2 tổ phó.

Đối với cơ sở giáo dục có phân hiệu, trường chính được bố trí 1 tổ phó và mỗi phân hiệu được bố trí 1 tổ phó. Riêng tổ văn phòng có từ 7 đến 9 người được bố trí 1 tổ phó; từ 10 người trở lên được bố trí không quá 2 tổ phó.

Quy định hợp lý nhưng chưa bao quát hết đặc thù tổ ghép, điểm lẻ

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Hoàng Quang Cẩn - Hiệu trưởng Trường Tiểu học và Trung học cơ sở A Ngo (tỉnh Quảng Trị) chia sẻ: “Trong quản trị trường học hiện đại, tổ chuyên môn không đơn thuần là một cấp hành chính trung gian mà là “trái tim” vận hành chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Dự thảo Thông tư quy định số lượng tổ trưởng, tổ phó tổ chuyên môn, tổ văn phòng và tổ giáo dục đặc thù được tính nằm trong tổng số lượng người làm việc ở vị trí giáo viên và vị trí hỗ trợ đã giao cho nhà trường - tức không bố trí biên chế riêng - là bước đi hoàn toàn phù hợp với chủ trương tinh giản biên chế của Đảng và Nhà nước. Quy định này trả lại đúng bản chất cho đội ngũ tổ trưởng, tổ phó: họ trước hết phải là những nhà giáo, nhân viên giỏi nghề, trực tiếp đứng lớp, làm chuyên môn rồi mới kiêm nhiệm công tác quản lý, qua đó ngăn chặn tình trạng hành chính hóa đội ngũ cốt cán ở cơ sở.

Điểm sáng đáng ghi nhận trong dự thảo lần này là Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra một thước đo định lượng rất minh bạch đối với số lượng tổ phó. Quy định này giúp hiệu trưởng tháo gỡ tâm lý nể nang, chấm dứt tình trạng bổ nhiệm cảm tính hoặc cào bằng giữa tổ quy mô nhỏ với tổ quy mô lớn.

Tuy nhiên, nhìn vào mặt bên kia của vấn đề, việc “gói” tổ trưởng, tổ phó vào định mức giáo viên chung trong bối cảnh định mức giáo viên trên lớp đang có xu hướng siết chặt lại đẩy hiệu trưởng vào cảnh biên chế đủ trên giấy nhưng thiếu giờ dạy trên thực tế”.

ngay-sach-2026-1.jpg
Thầy Hoàng Quang Cẩn (bên phải ảnh) – Hiệu trưởng Trường Tiểu học và Trung học cơ sở A Ngo (tỉnh Quảng Trị). Ảnh: NVCC

Theo thầy Cẩn, hiện nay, mỗi tổ trưởng được giảm 3 tiết/tuần, tổ phó được giảm 1 tiết/tuần. Tại một trường phổ thông có quy mô trung bình từ 4 đến 5 tổ chuyên môn, tổng số tiết giảm trừ của đội ngũ cán bộ tổ cộng lại tương đương với định mức làm việc của gần một biên chế giáo viên.

Khi không có cơ chế bù đắp quỹ tiết giảm trừ này vào tổng biên chế được giao, số tiết dôi ra buộc phải chia đều cho các giáo viên còn lại trong tổ. Hệ quả là áp lực đứng lớp của giáo viên tăng lên, hoặc nhà trường phải gồng mình tìm nguồn kinh phí chi trả tiền dạy thêm giờ vốn luôn eo hẹp ở các địa phương.

Đặc biệt, quy định cho phép cơ sở giáo dục có phân hiệu được bố trí 1 tổ phó ở trường chính và mỗi phân hiệu 1 tổ phó thực sự là cơn mưa giải nhiệt cho các trường vùng cao, biên giới hoặc các trường sau sáp nhập có địa bàn rộng. Khi điểm trường lẻ cách điểm trường chính hàng chục cây số, sự hiện diện của một Tổ phó cắm chốt tại phân hiệu chính là cánh tay nối dài đắc lực giúp Ban Giám hiệu duy trì nền nếp sinh hoạt chuyên môn, dự giờ thăm lớp và xử lý kịp thời các tình huống sư phạm hằng ngày.

Dù vậy, nếu áp dụng rập khuôn các con số này vào thực tế muôn hình vạn trạng của các nhà trường thì vẫn lộ ra hai khoảng trống lớn. Khoảng trống thứ nhất nằm ở các trường quy mô nhỏ hoặc trường liên cấp tiểu học và trung học cơ sở.

Tại đây, để đủ số lượng thành viên, nhà trường buộc phải thành lập các “tổ ghép đa môn” (chẳng hạn ghép Khoa học tự nhiên với Công nghệ, Tin học; hoặc ghép Khoa học xã hội với Nghệ thuật, Giáo dục thể chất).

Một tổ chuyên môn có 6 giáo viên nhưng trải dài ở 4 phân môn độc lập và 2 cấp học khác nhau, nếu chiếu theo dự thảo sẽ không đủ điều kiện có tổ phó vì chưa chạm mốc 7 người. Khi đó, một mình tổ trưởng vốn chỉ được đào tạo đơn môn phải gồng gánh việc duyệt kế hoạch bài dạy và thẩm định chuyên môn cho hàng loạt môn học khác biệt, rất dễ dẫn đến quản lý hình thức.

Ngược lại, ở khoảng trống thứ hai, quy định “mỗi phân hiệu được bố trí 1 tổ phó” nếu không đi kèm điều kiện về quy mô tối thiểu tại điểm lẻ sẽ dẫn đến nghịch lý: những trường có 3 đến 4 điểm trường nhỏ, mỗi điểm chỉ có 2 đến 3 giáo viên cũng đồng loạt bổ nhiệm tổ phó, gây lãng phí quỹ phụ cấp và làm phình to đội ngũ trung gian không cần thiết.

Cùng bàn luận về chủ đề này, thầy Hoàng Đức Hòa - Hiệu trưởng Trường Phổ thông Nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Thượng Trạch (tỉnh Quảng Trị), cơ bản đồng tình với việc Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể số lượng tổ trưởng, tổ phó chuyên môn nhằm thống nhất tổ chức bộ máy, sử dụng hiệu quả đội ngũ và nâng cao trách nhiệm quản lý tại các cơ sở giáo dục.

Tuy nhiên, theo thầy Hòa, việc bố trí tổ phó chủ yếu căn cứ vào số lượng thành viên của tổ hoặc số lượng phân hiệu chưa phản ánh đầy đủ đặc thù tổ chức và khối lượng công việc tại các trường phổ thông nhiều cấp học, trường phổ thông nội trú, bán trú, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.

Thực tế, tại nhà trường, đội ngũ giáo viên phân tán trên địa bàn rộng, khoảng cách giữa hai điểm trường xa. Điều này gây nhiều khó khăn trong tổ chức sinh hoạt chuyên môn, kiểm tra chất lượng, hướng dẫn giáo viên, triển khai chương trình giáo dục và quản lý học sinh.

Vì vậy, nếu chỉ căn cứ vào số lượng giáo viên để xác định số tổ phó, quy định có thể chưa đáp ứng yêu cầu thực tế tại các trường có nhiều điểm trường và nhiều cấp học. Thầy Hòa đề xuất cho phép các trường căn cứ vào quy mô, đặc điểm tổ chức và điều kiện thực tế để bố trí tổ phó phụ trách theo cụm điểm trường, cấp học hoặc nhóm chuyên môn.

Bên cạnh đó, thầy Hòa cho rằng cần phân biệt rõ các khái niệm “phân hiệu”, “điểm trường” và “điểm trường lẻ” trong quy định. Điều này nhằm tránh trường hợp những cơ sở giáo dục có nhiều điểm trường, gặp khó khăn tương tự trường có phân hiệu nhưng không thuộc đối tượng áp dụng cơ chế bố trí nhân sự phù hợp.

c8ae6ee10d878dd9d496.jpg
Thầy Hoàng Đức Hòa - Hiệu trưởng Trường Phổ thông Nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Thượng Trạch (tỉnh Quảng Trị). Ảnh: NVCC

Cần điều chỉnh theo hướng linh hoạt và toàn diện hơn

Theo cô Hoàng Thị Bích Thuận - Tổ trưởng Tổ Tự nhiên, Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Hầu Thào (tỉnh Lào Cai), để quy định về số lượng tổ trưởng, tổ phó chuyên môn phù hợp với thực tiễn, cần xem xét đặc thù tổ chức và điều kiện hoạt động của từng nhà trường, nhất là những trường có nhiều phân hiệu, điểm trường.

Theo cô Thuận, việc bố trí tổ trưởng, tổ phó chuyên môn cần căn cứ vào số lượng giáo viên, quy mô tổ chuyên môn và đặc điểm tổ chức dạy học. Đối với những trường có nhiều điểm trường, giáo viên phân tán ở các địa điểm khác nhau, công tác quản lý, điều hành và hỗ trợ chuyên môn có thể phát sinh thêm nhiều nhiệm vụ. Vì vậy, nếu chỉ căn cứ vào số lượng giáo viên mà chưa tính đến đặc thù tổ chức của nhà trường, việc bố trí nhân sự phụ trách chuyên môn có thể chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tế.

Bên cạnh đó, cần bảo đảm sự tương xứng giữa trách nhiệm được giao với thời gian thực hiện nhiệm vụ và chế độ đãi ngộ. Tổ trưởng, tổ phó chuyên môn không chỉ thực hiện công tác giảng dạy mà còn đảm nhiệm việc xây dựng kế hoạch, tổ chức sinh hoạt chuyên môn, theo dõi hoạt động của giáo viên và phối hợp triển khai các nhiệm vụ giáo dục. Do đó, khi quy định số lượng các vị trí này, cần tính đến khối lượng công việc thực tế để tránh tình trạng trách nhiệm tăng nhưng điều kiện thực hiện nhiệm vụ chưa tương xứng.

Theo cô Thuận, việc xây dựng quy định cần bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với quy mô và đặc thù của từng cơ sở giáo dục. Cùng với việc xác định số lượng tổ trưởng, tổ phó chuyên môn, cần xem xét chế độ phụ cấp và thời gian dành cho công tác quản lý, điều hành chuyên môn, qua đó bảo đảm quyền lợi của giáo viên kiêm nhiệm và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chuyên môn.

1787799216127-7101056839937784347-7101056839937784347-9298520f56136d19becf213caee7642a.jpg
Một tiết học của Trường Tiểu học và Trung học cơ sở A Ngo. Ảnh: NVCC

Thầy Cẩn cho rằng, thay vì chỉ đếm đầu người cơ học, dự thảo cần kết hợp tiêu chí số lượng với tính chất phức tạp của tổ chuyên môn. Đối với các tổ chuyên môn ghép từ 3 môn học trở lên hoặc tổ chuyên môn liên cấp có từ 5 đến 6 giáo viên, cần cho phép nhà trường được bố trí 1 tổ phó khác phân môn hoặc khác cấp học với Tổ trưởng để hỗ trợ quản lý chuyên môn sâu.

Đồng thời, đối với các trường có phân hiệu, cần bổ sung quy định phân hiệu phải đạt quy mô tối thiểu từ 5 giáo viên trở lên mới bố trí 1 tổ phó riêng; trường hợp các điểm lẻ có ít giáo viên hơn thì chỉ bố trí 1 tổ phó phụ trách chung theo cụm phân hiệu và khống chế mức trần không quá 3 tổ phó cho một tổ chuyên môn toàn trường.

Bên cạnh đó, để giải bài toán thiếu hụt giờ dạy khi không bố trí biên chế riêng cho tổ trưởng, tổ phó, công thức tính tổng định mức số lượng người làm việc ở vị trí giáo viên giao cho nhà trường hàng năm cần được cộng thêm hệ số quy đổi từ tổng số tiết giảm trừ theo quy định của đội ngũ cán bộ kiêm nhiệm. Chỉ khi quỹ tiết giảm trừ này được tính đủ vào định mức nhân sự chung, nhà trường mới không bị rơi vào cảnh thiếu giáo viên đứng lớp cục bộ.

Sau khi sáp nhập trường học theo đơn vị hành chính cấp xã hoặc tổ chức trường liên cấp, nhiều cơ sở giáo dục có quy mô nhân sự lớn, hoạt động tại nhiều điểm trường. Trong khi đó, tổ chức Đảng tại các trường cũng được kiện toàn, kéo theo yêu cầu tăng cường vai trò lãnh đạo tại từng chi bộ, cấp học và phân hiệu.

Thực tế này khiến một bộ phận tổ trưởng, tổ phó chuyên môn phải kiêm nhiệm thêm công tác Đảng như bí thư, phó bí thư chi bộ. Ngoài nhiệm vụ giảng dạy và điều hành hoạt động chuyên môn, họ còn phải đảm nhận nhiều công việc Đảng vụ, làm gia tăng đáng kể khối lượng công việc.

Theo thầy Cẩn, trong khi trách nhiệm kiêm nhiệm ngày càng lớn, cơ chế giảm định mức tiết dạy chưa phản ánh đầy đủ đặc thù này. Quy định hiện hành chủ yếu áp dụng mức giảm tiết đối với chức danh kiêm nhiệm cao nhất, trong khi chế độ đối với giáo viên đồng thời đảm nhiệm chức vụ tổ trưởng, tổ phó chuyên môn và bí thư, phó bí thư chi bộ chưa được quy định rõ ràng, tương xứng. Vì vậy, cần nghiên cứu điều chỉnh chính sách theo hướng ghi nhận đầy đủ khối lượng công việc kiêm nhiệm, bảo đảm thời gian thực hiện nhiệm vụ và quyền lợi phù hợp cho đội ngũ này.

Trần Trang