Tinh gọn đầu mối cơ sở giáo dục đại học và những nút thắt cần tháo gỡ

06/11/2026 06:22
Minh Nguyên

GDVN -Hợp nhất có thể tạo điều kiện dùng chung phòng thí nghiệm, thư viện, dữ liệu, chương trình sau đại học và đội ngũ chuyên gia... nhưng quy mô lớn không tự động sinh ra học thuật mạnh.

Năng lực cạnh tranh của một quốc gia ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng biến tri thức thành năng suất, công nghệ và chất lượng sống. Vì thế, giáo dục đại học không thể chỉ được nhìn qua số trường, quy mô tuyển sinh hay tên gọi của các cơ sở đào tạo; điều quan trọng hơn là mỗi cơ sở giáo dục đại học làm tốt sứ mạng nào, tạo ra năng lực gì cho người học và đóng góp ra sao cho phát triển đất nước, cho tiến bộ xã hội.

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị đặt ra chương trình đột phá rộng hơn là việc sắp xếp tổ chức: tái cấu trúc mạng lưới, có phương án xử lý cơ sở không đạt chuẩn, tinh gọn quản trị, mở rộng tự chủ toàn diện, đổi mới cơ chế đầu tư và đưa đại học trở thành trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Kế hoạch số 06-KH/TW ngày 28/7/2026 tiếp tục yêu cầu tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học công lập, trong đó đặt mục tiêu giảm tối thiểu 20% đầu mối trước ngày 1/4/2027.

Tinh gọn đầu mối chỉ có ý nghĩa khi giải phóng nguồn lực cho chất lượng, công bằng và sáng tạo; trong phạm vi bài viết này, tác giả bàn về ý nghĩa và giới hạn của việc tái cấu trúc; nhận diện những nút thắt về tự chủ, nguồn lực và nhân lực học thuật.

Thông báo số 562/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo hoàn thiện dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án sắp xếp, tổ chức lại hệ thống cơ sở giáo dục đại học; trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước ngày 10 tháng 11 năm 2026.

Nghị quyết 71 mở rộng “bài toán”

Nghị quyết 71-NQ/TW nhìn giáo dục đại học như một bộ phận của chiến lược phát triển con người, khoa học - công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia. Nghị quyết yêu cầu sắp xếp, tái cấu trúc các cơ sở giáo dục đại học; sáp nhập hoặc giải thể những cơ sở không đạt chuẩn; xóa bỏ cấp trung gian; nghiên cứu sáp nhập trường đại học với trường đại học, viện nghiên cứu với trường đại học; đồng thời đầu tư hiện đại hóa hạ tầng, phát triển các đại học nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ.

Điểm cốt yếu là các yêu cầu tổ chức ấy nằm trong một ‘gói’ chính sách rộng hơn. Nghị quyết đặt tự chủ đại học đầy đủ, toàn diện bên cạnh trách nhiệm giải trình; yêu cầu phân bổ ngân sách theo sứ mạng, chất lượng và hiệu quả; ưu tiên nguồn lực cho giáo dục đại học và nghiên cứu; gắn đào tạo với nhu cầu nhân lực, đổi mới sáng tạo và phát triển vùng, phát triển ngành, phát triển đất nước. Nói cách khác, tái cấu trúc không thể tách khỏi câu hỏi nhà trường được giao sứ mạng gì, được trao quyền gì và có nguồn lực nào để thực hiện sứ mạng ấy.

Kế hoạch số 06-KH/TW ngày 28/7/2026 cụ thể hóa yêu cầu sắp xếp tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị. Đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập, kế hoạch nêu hướng chuyển các cơ sở đa ngành, đa lĩnh vực về Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc địa phương quản lý, tổ chức sáp nhập, hợp nhất các cơ sở trên cùng địa bàn, trừ lĩnh vực đặc thù; đồng thời giảm tối thiểu 20% đầu mối trước ngày 1/4/2027.

Nghị quyết 71 là chủ trương chuyên ngành về đột phá giáo dục và đào tạo. Kế hoạch 06 được ban hành để thực hiện kết luận của Hội nghị Trung ương lần thứ ba khóa XIV về mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp. Hai văn bản có điểm gặp nhau ở yêu cầu tinh gọn, nâng hiệu quả và tái cấu trúc, riêng kế hoạch 06 tạo thêm khuôn khổ tổ chức và thời hạn thực thi.

gddh.jpg
Ảnh minh họa được tạo bởi AI

Quy mô không tự sinh ra chất lượng

Hợp nhất có thể tạo điều kiện dùng chung phòng thí nghiệm, thư viện, dữ liệu, chương trình sau đại học và đội ngũ chuyên gia; tạo nhóm nghiên cứu đủ sức theo đuổi các câu hỏi liên ngành; giảm những khâu hành chính trùng lặp. Nhưng quy mô lớn không tự động sinh ra học thuật mạnh. Nếu các đơn vị chỉ được ghép trên giấy, còn chương trình, ngân sách, đội ngũ và quy trình ra quyết định vẫn chia cắt, tổ chức mới có thể trở thành một bộ máy lớn hơn mà chưa tạo ra giá trị mới.

Kinh nghiệm so sánh cũng không ủng hộ một công thức hợp nhất dùng cho mọi trường hợp. OECD ghi nhận bằng chứng về kết quả của hợp tác, liên minh và sáp nhập đại học còn hạn chế; các hình thức này có thể nâng hiệu quả, sức chống chịu và khả năng phục vụ ưu tiên quốc gia, nhưng không đem lại kết quả giống nhau trong mọi hoàn cảnh. Những trường hợp đạt kết quả tốt thường cần kế hoạch rõ, sự tham gia của các bên liên quan, nguồn lực tập trung và chính sách đồng bộ. [1] Phân tích của Hiệp hội Đại học châu Âu về gần 130 trường hợp sáp nhập và liên kết từ năm 2000 cũng cho thấy các hệ thống lựa chọn nhiều hình thức tổ chức khác nhau, thay vì một mẫu hình chung. [2].

Do đó, trước mỗi quyết định, cần trả lời ba câu hỏi thực chất: Vấn đề nào của người học, nhà trường hoặc địa phương sẽ được giải quyết? Sau thay đổi, năng lực nào được cộng thêm mà từng cơ sở không thể tạo ra riêng lẻ? Và nguồn lực tiết kiệm được sẽ quay lại lớp học, nghiên cứu, hỗ trợ người học hay chỉ dùng để duy trì một tầng quản lý mới? Câu trả lời phải dựa trên dữ liệu về tuyển sinh, ngành học, đội ngũ, tài chính, cơ sở vật chất và kết quả đầu ra, không chỉ dựa vào tên gọi hoặc khoảng cách địa lý.

Tái cấu trúc có thể thay đổi ranh giới giữa các tổ chức, nhưng không thể tự giải quyết những vấn đề nằm bên trong: quyền tự chủ bị thu hẹp vào chuyện cân đối thu chi; nguồn lực đầu tư chưa gắn chặt với sứ mạng; nghiên cứu bị quản lý như một khoản chi hành chính; và tuyển dụng thiếu cạnh tranh. Nếu những điểm nghẽn ấy được chuyển nguyên vẹn vào một tổ chức mới, tên gọi mới sẽ không làm đổi chất lượng vận hành.

Tự chủ không đồng nghĩa với tự túc tài chính

Tự chủ đại học là năng lực tự quyết về học thuật, tổ chức, nhân sự và tài chính trong khuôn khổ pháp luật, đi cùng trách nhiệm giải trình. Nó không phải việc Nhà nước chuyển toàn bộ gánh nặng chi phí sang người học. Nghị quyết 71 nêu rõ quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện của cơ sở giáo dục đại học không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính; đồng thời yêu cầu phân bổ ngân sách theo sứ mạng, chất lượng và hiệu quả. Đây là nguyên tắc cần được thể hiện nhất quán trong chính sách học phí, đặt hàng đào tạo và đầu tư công.

Một trường đào tạo các ngành cần nhiều thực hành, thực địa, phòng thí nghiệm hoặc phục vụ nhóm người học có khả năng chi trả hạn chế không thể được đánh giá chỉ bằng mức thu học phí hay cân đối thu - chi trong một năm. Nhà nước cần đặt hàng rõ ràng những ngành, nhiệm vụ công ích và năng lực nghiên cứu thiết yếu; nhà trường cần công khai chi phí, kết quả và cơ chế hỗ trợ người học. Với đại học nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và môi trường, điều này đặc biệt quan trọng vì kết quả đào tạo và nghiên cứu thường tạo lợi ích dài hạn cho cộng đồng, an ninh lương thực, sinh kế nông thôn, Net Zero và khả năng thích ứng biến đổi khí hậu.

Nghị quyết 71 đặt mục tiêu chi cho giáo dục đại học đạt ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nước, đồng thời yêu cầu cơ chế phân bổ dựa trên sứ mạng và kết quả. Con số này cần được chuyển thành nguồn lực có thể dự báo, gắn với nhiệm vụ và tiêu chí minh bạch. Nếu chỉ nêu tỷ lệ mà không cải thiện cách phân bổ, các đơn vị vẫn có thể tiếp tục cạnh tranh nguồn thu ngắn hạn bằng cách mở rộng tuyển sinh ở những ngành dễ thu học phí, trong khi các lĩnh vực có giá trị công nhưng chi phí cao khó được duy trì.

Dùng chung nguồn lực, không đồng nhất mọi sứ mạng

Sự phân mảnh gây lãng phí khi nhiều cơ sở cùng đầu tư hạ tầng tương tự nhưng quy mô khai thác thấp, hoặc khi các đơn vị không thể hợp tác để giải quyết một vấn đề liên ngành. Tuy nhiên, khác biệt về chuyên môn không phải tự thân là khuyết điểm. Một đại học vùng, trường nông nghiệp, trường y, trường nghệ thuật hay cơ sở đào tạo kỹ thuật có thể cần cấu trúc và tiêu chí thành công riêng. Việc cần làm là nhận diện tài sản, thế mạnh và phần trùng lặp thực sự, rồi chọn đúng công cụ: chia sẻ phòng thí nghiệm, học liệu và dữ liệu; tổ chức chương trình liên trường; dùng chung dịch vụ; lập liên minh nghiên cứu; hoặc hợp nhất khi có lợi ích học thuật đủ rõ.

Nguyên tắc là không lấy việc cắt bỏ chuyên ngành làm dấu hiệu của tinh gọn. Sau sáp nhập, các chương trình thiết yếu cho vùng hoặc ngành không nên bị thu hẹp chỉ vì quy mô tuyển sinh nhỏ trong một vài năm. Cần đánh giá chất lượng, nhu cầu dài hạn, khả năng liên kết và chi phí xã hội của việc đóng ngành. Một tổ chức tốt có thể lớn hơn về năng lực phối hợp mà vẫn bảo tồn các đơn vị chuyên môn có bản sắc riêng với trách nhiệm rõ ràng.

Đổi mới tài chính nghiên cứu để khoa học có thể chấp nhận rủi ro

Nghiên cứu khoa học, nhất là nghiên cứu thực địa, nông nghiệp, y dược, sinh học và công nghệ mới, có rủi ro về thời tiết, vật liệu, thiết bị và khả năng lặp lại kết quả. Cơ chế tài chính cần bảo đảm tuân thủ pháp luật, nhưng cũng phải phân biệt gian lận với rủi ro khoa học có thể giải trình. Nếu nhà khoa học phải dự đoán từ đầu mọi khoản chi nhỏ trong một dự án kéo dài nhiều năm, hoặc bị đánh giá chỉ qua hóa đơn ‘đỏ’ thay vì mục tiêu và tính liêm chính, động lực nghiên cứu và thử nghiệm sẽ suy giảm.

Có thể chuyển dần sang quản lý theo danh mục chi phí hợp lệ, mốc tiến độ, sản phẩm trung gian và kết quả cuối cùng; cho phép điều chỉnh kỹ thuật trong phạm vi được phê duyệt; đánh giá rủi ro theo từng loại nghiên cứu; kiểm toán độc lập sau thực hiện; và công khai cách xử lý kết quả âm tính hoặc không đạt giả thuyết. Cơ chế đó không miễn trừ trách nhiệm tài chính. Nó giúp kiểm soát đúng rủi ro công quỹ mà không buộc khoa học phải ‘giả vờ’ rằng mọi thí nghiệm đều có thể dự báo trước.

Mở cửa tuyển dụng và bảo vệ công bằng học thuật

Cận huyết học thuật thường được dùng để chỉ xu hướng một cơ sở liên tục tuyển dụng người được đào tạo trong chính hệ thống của mình, khiến sự luân chuyển tri thức và cạnh tranh ý tưởng bị hạn chế. Bản thân việc tuyển một cựu sinh viên xuất sắc không sai; vấn đề nằm ở quy trình khép kín, tiêu chí không công khai, xung đột lợi ích không được kiểm soát hoặc việc một nhóm nhỏ độc quyền quyết định nhân sự.

Giải pháp căn cơ là mở rộng cạnh tranh thực chất: công bố vị trí và tiêu chí trước tuyển dụng; có hội đồng chuyên môn đa dạng, bao gồm phản biện bên ngoài khi phù hợp; yêu cầu khai báo quan hệ lợi ích; lưu vết và công khai lý do lựa chọn; bảo đảm cơ chế khiếu nại; tạo điều kiện cho giảng viên trẻ được luân chuyển, làm nghiên cứu sau tiến sĩ, cộng tác liên trường hoặc làm việc với doanh nghiệp. Những biện pháp này chống "đóng cửa" mà không loại bỏ máy móc những người hiểu rõ nhà trường và đã chứng minh được năng lực của họ.

Cùng nguyên tắc ấy, không nên áp đặt một tỷ lệ tuyển người từ bên ngoài hằng năm hoặc buộc mọi tiến sĩ mới tốt nghiệp phải rời trường một số năm mới được ứng tuyển. Những hạn ngạch cứng có thể làm méo quyết định nhân sự, nhất là ở ngành hẹp hoặc địa bàn khó tuyển. Nhà trường cần có cơ chế khuyến khích đa dạng học thuật, nhưng phải dựa trên mục tiêu phù hợp, công khai và đánh giá được. Luật Giáo dục đại học 2025 đã đặt quyền tự chủ trong tuyển dụng, thuê giảng viên và bổ nhiệm một số chức danh trong khuôn khổ quy định; Nghị quyết 71 cũng yêu cầu trao quyền cho cơ sở giáo dục đại học trong các quyết định nhân sự phù hợp với điều kiện nhà trường. Quyền tự chủ ấy chỉ đáng tin khi đi cùng tuyển dụng công bằng và giải trình nghiêm túc, khả tín.

Trong mọi đợt sắp xếp, con người không phải là phần dư của sơ đồ. Cần thông tin sớm, đối thoại thực chất, công nhận quyền lợi hợp pháp, đánh giá năng lực theo vị trí mới và có kế hoạch bồi dưỡng, luân chuyển hoặc chuyển đổi công việc. Cùng với việc sắp xếp nhân sự, cần bảo tồn lịch sử, tư liệu khoa học, dấu mốc và đóng góp của các trường, viện tiền thân; mời các nhà khoa học cao niên tham gia cố vấn, trao truyền kinh nghiệm. Đây là "nhịp cầu" thế hệ, không phải lý do để kéo dài quyền điều hành. Giữ lại được lòng tin, ký ức nghề nghiệp và động lực cống hiến là một phần của hiệu quả cải cách, không phải là việc bên lề của tiến trình tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học công lập.

Tài liệu tham khảo:

1. Williams, J. (2017), “Collaboration, alliance, and merger among higher education institutions”, OECD Education Working Papers, No. 160, OECD Publishing.

2. European University Association (2019), “University Mergers in Europe”, EUA Briefing.

Minh Nguyên