Ngày 22/8/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó xác định nhiều mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện cho ngành giáo dục.
Sau gần một năm triển khai, các địa phương, cơ sở giáo dục đã cụ thể hóa Nghị quyết bằng chương trình, kế hoạch phù hợp với thực tiễn. Bên cạnh những kết quả bước đầu, quá trình thực hiện cũng còn một số vướng mắc nhất đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ để hiện thực hóa mục tiêu đã đề ra.
Sơn La triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 71
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, ông Nguyễn Văn Chiến - Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sơn La cho biết, sau khi Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 281/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW được ban hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Kế hoạch số 14-KH/TU ngày 14/11/2025; Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 252/KH-UBND ngày 31/12/2025, xác định mục tiêu đến năm 2030, năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 và giao 49 nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ban, ngành, địa phương, cơ sở giáo dục và đào tạo tổ chức thực hiện.
Trên cơ sở đó, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sơn La đã phát huy vai trò cơ quan thường trực, chủ động tham mưu ủy ban nhân dân tỉnh, hướng dẫn, đôn đốc và phối hợp rà soát tiến độ, sản phẩm đầu ra. Tính đến ngày 10/7/2026, 75/75 đảng ủy, ủy ban nhân dân xã, phường và 18/18 sở, ngành, trường đại học thuộc phạm vi tổng hợp đã xây dựng kế hoạch triển khai; các nhiệm vụ được lồng ghép với chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ năm học và mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Theo Kế hoạch số 252/KH-UBND, tổng số nhiệm vụ được giao là 49 nhiệm vụ, thuộc 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Tính đến ngày 10/7/2026, đã hoàn thành 20 nhiệm vụ, đạt 40,81%; 29 nhiệm vụ đang triển khai, chiếm 59,19%. Các nhiệm vụ đang triển khai chủ yếu là nhiệm vụ thường xuyên hoặc có thời hạn hoàn thành trong giai đoạn từ 2026-2030 và giai đoạn tiếp theo.
Theo Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sơn La, sau gần một năm triển khai Nghị quyết 71, những kết quả nổi bật tại địa phương có thể kể đến như sau:
Về nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy và hành động, 100% cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi tổng hợp đã ban hành kế hoạch triển khai. Có 5.124 công chức cấp tỉnh, cấp xã; 27.230 viên chức, người lao động và 4.459 sinh viên được học tập, quán triệt; thực hiện 10 bài viết, phóng sự tuyên truyền. Chủ trương đổi mới quản trị cơ sở giáo dục, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu và quản trị dựa trên dữ liệu từng bước được triển khai.
Về đổi mới thể chế, cơ chế, chính sách, từ tháng 8/2025 - 6/2026, Sở đã chủ trì, phối hợp tham mưu 12 văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quản lý của tỉnh, gồm 3 nghị quyết của hội đồng nhân dân tỉnh, 3 quyết định của ủy ban nhân dân tỉnh và 6 kế hoạch, đề án, hướng dẫn chuyên ngành; đồng thời rà soát 100% văn bản cơ chế, chính sách giáo dục mầm non và phổ thông còn hiệu lực.
Về giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ, các cơ sở giáo dục tăng cường giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, văn hóa học đường, giáo dục thể chất và xây dựng trường học an toàn, hạnh phúc. 100% cơ sở giáo dục mầm non xây dựng môi trường giáo dục an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích và bạo hành trẻ em; 100% trẻ đến trường được kiểm tra sức khỏe, đánh giá tình trạng dinh dưỡng; 100% trẻ mầm non được học 2 buổi/ngày. Các quy định về bán trú, vệ sinh an toàn thực phẩm, y tế trường học và giáo dục hòa nhập được triển khai thường xuyên.
Về chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, Sở đã ban hành Kế hoạch số 25/KH-SGDĐT ngày 22/01/2026 về thúc đẩy giáo dục số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, trường học số và lớp học thông minh. 100% cơ sở giáo dục cập nhật dữ liệu trường, lớp, giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất trên cơ sở dữ liệu ngành; cung cấp 9 nhóm dữ liệu dùng chung và 26 dữ liệu mở của ngành. Học bạ số được tạo lập cho học sinh các khối lớp; 21.839 cán bộ quản lý, giáo viên tham gia bồi dưỡng khung năng lực số, trong đó 88,54% hoàn thành; thí điểm dạy học AI tại 18 trường với 14.567 học sinh.
Về phát triển đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, phổ thông, Sở đã ban hành nhiều kế hoạch, đề án, quyết định nhằm tăng cường đầu tư hạ tầng giáo dục, phát triển đội ngũ và nâng cao chất lượng dạy học.
Năm học 2025-2026 có 226 trường mầm non, 79.659 trẻ; tỷ lệ trẻ 5 tuổi ra lớp đạt 99,4%, trẻ 3-4 tuổi đạt 96,9%; 10/75 xã, phường đủ điều kiện đạt chuẩn phổ cập mầm non cho trẻ 3-5 tuổi. Toàn tỉnh có 381 cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên; 100% cơ sở giáo dục xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường, triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở tất cả các khối lớp. Năm học này, toàn tỉnh đạt 40 giải học sinh giỏi quốc gia, trong đó có 1 giải Nhất môn Lịch sử.
Về cải cách, hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ quan liên quan đang xây dựng kế hoạch phát triển cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao; tăng cường gắn kết nhà trường - doanh nghiệp, dự báo nhu cầu nhân lực, nghiên cứu mô hình đào tạo tại doanh nghiệp và chính sách đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề cao. Chương trình đào tạo nghề chất lượng cao cho người dân tộc thiểu số đã được cụ thể hóa bằng các kế hoạch và đang tổ chức thực hiện theo lộ trình.
Về hiện đại hóa giáo dục đại học, phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, Sở đã ban hành Kế hoạch số 139/KH-UBND ngày 29/5/2026 triển khai chiến lược phát triển nguồn nhân lực đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Kế hoạch số 124/KH-UBND ngày 02/5/2026 về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là người dân tộc thiểu số. Trường Đại học Tây Bắc được đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu số và không gian đổi mới sáng tạo. Nhiệm vụ xây dựng quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và nghiên cứu định hướng đào tạo nhân lực công nghiệp bán dẫn tiếp tục được rà soát, hoàn thiện.
Ông Chiến nhấn mạnh, công tác triển khai Nghị quyết 71 được Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; hệ thống văn bản cụ thể hóa được ban hành tương đối đồng bộ, xác định rõ cơ quan chủ trì, phối hợp, sản phẩm và thời hạn thực hiện. Một số nhiệm vụ nền tảng đã có kết quả rõ nét, nhất là công tác truyền thông, hoàn thiện cơ chế chính sách, chuyển đổi số, đầu tư cơ sở vật chất, phổ cập giáo dục, phát triển ngoại ngữ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc phối hợp giữa ngành Giáo dục và Đào tạo với các sở, ngành, địa phương và cơ sở đào tạo từng bước đi vào nền nếp.
Tuy nhiên, việc thực hiện một số nhiệm vụ còn gặp khó khăn do địa bàn rộng, dân cư phân tán, nhiều điểm trường lẻ và chênh lệch điều kiện dạy học giữa các vùng. Toàn tỉnh còn thiếu 3.708 biên chế giáo viên; tỷ lệ giáo viên/lớp ở tiểu học đạt 1,32; trung học cơ sở đạt 1,83, thấp hơn định mức tối thiểu; thiếu nhiều giáo viên môn tiếng Anh, Tin học và các môn tích hợp.
Ngoài ra, tỷ lệ thiếu thiết bị dạy học tối thiểu còn cao, ở bậc trung học phổ thông - giáo dục thường xuyên là 47,7%, trung học cơ sở là 43,25%, mầm non là 24,95%, tiểu học là 22,23%. Hạ tầng số, đường truyền Internet và thiết bị tại vùng sâu, vùng xa chưa đồng bộ; năng lực tham mưu quản lý giáo dục ở một số xã còn hạn chế do thiếu công chức có chuyên môn giáo dục. Nhiều nhiệm vụ liên ngành có lộ trình dài, phụ thuộc hướng dẫn của Trung ương và khả năng cân đối nguồn lực.
Hứa hẹn tiếp tục tạo ra những đột phá quan trọng trong giai đoạn mới
Việc triển khai Nghị quyết 71 cũng đã và đang tạo nhiều chuyển biến tại các cơ sở giáo dục.
Thầy Ngô Thanh Xuân - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Chuyên Lào Cai (tỉnh Lào Cai) chia sẻ, Nghị quyết 71 tạo động lực quan trọng để các trường trung học phổ thông chuyên tiếp tục khẳng định vai trò là nơi phát hiện, bồi dưỡng học sinh có năng khiếu, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Đối với Trường Trung học phổ thông Chuyên Lào Cai, sau một năm triển khai đã ghi nhận nhiều chuyển biến rõ rệt cả về nhận thức và hành động.
Theo đó, nhà trường tiếp tục đổi mới công tác tuyển sinh theo hướng lựa chọn đúng học sinh có năng lực nổi trội, đồng thời xây dựng lộ trình bồi dưỡng phù hợp với năng lực, sở trường của từng em. Việc bồi dưỡng học sinh giỏi không chỉ hướng tới các kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia, khu vực và quốc tế, mà còn chú trọng phát triển tư duy nghiên cứu khoa học, năng lực đổi mới sáng tạo, ngoại ngữ, kỹ năng số và khả năng hội nhập quốc tế.
Kết quả trong năm học vừa qua, nhà trường đạt 79 giải học sinh giỏi cấp quốc gia, 2 giải nghiên cứu khoa học cấp quốc gia, 1 giải cấp quốc gia học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp, có 2 học sinh vào vòng 2 thi chọn đội Olympic Việt Nam môn Tin học và 3 học sinh vào vòng chung cuộc kỳ thi Olympic Trí tuệ nhân tạo Việt Nam (VOAI).
Song song với đó, nhà trường tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo trong quản lý và dạy học; đẩy mạnh các hoạt động STEM; tăng cường dạy học các môn khoa học bằng tiếng Anh với thời lượng khoảng 30%.
Thầy Xuân chia sẻ thêm, bên cạnh kết quả tích cực, quá trình triển khai còn tồn tại một số khó khăn. Trước hết, Lào Cai là tỉnh miền núi, địa bàn rộng, điều kiện học tập giữa các vùng có sự chênh lệch nên việc phát hiện và tuyển chọn học sinh có năng khiếu từ sớm vẫn gặp nhiều thách thức.
Ngoài ra, yêu cầu đào tạo nhân tài trong giai đoạn mới ngày càng cao, trong khi nguồn lực đầu tư cho phòng học chuyên đề, phòng thí nghiệm, thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số và các hoạt động trải nghiệm cần tiếp tục được quan tâm.
Đặc biệt, việc thu hút, phát triển đội ngũ giáo viên giỏi ở một số môn chuyên, công nghệ mới và ngoại ngữ là vấn đề cần có cơ chế phù hợp để tạo động lực cho thầy cô gắn bó lâu dài.
Để tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết 71, trong năm học 2026-2027, Trường Trung học phổ thông Chuyên Lào Cai xác định sẽ triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.
Đầu tiên, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn; chú trọng phát hiện, bồi dưỡng học sinh có năng khiếu ngay từ đầu cấp, tạo nguồn học sinh giỏi quốc gia, quốc tế.
Tiếp đó, đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; tăng cường ứng dụng chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và các mô hình giáo dục hiện đại trong quản lý và giảng dạy.
Việc mở rộng hợp tác với các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và đối tác quốc tế cũng được nhà trường chú trọng hơn. Điều này nhằm tạo điều kiện để học sinh được trải nghiệm nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển kỹ năng hội nhập.
Cuối cùng, nhà trường sẽ xây dựng môi trường giáo dục hạnh phúc, nhân văn, kỷ cương và sáng tạo; quan tâm giáo dục đạo đức, lý tưởng sống, trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến cho học sinh.
Trong khi đó, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sơn La cho biết, trong thời gian tới, để hiện thực hóa Nghị quyết 71, địa phương sẽ tập trung vào 7 nhiệm vụ.
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt, tuyên truyền sâu rộng Nghị quyết số 71; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu; gắn kết quả thực hiện Nghị quyết với chương trình công tác, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.
Thứ hai, rà soát 29 nhiệm vụ đang triển khai, xác định rõ tiến độ theo quý, sản phẩm đầu ra và trách nhiệm của cơ quan chủ trì, phối hợp; ưu tiên hoàn thành các nhiệm vụ có thời hạn trong năm 2026, kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh các nội dung vượt thẩm quyền.
Thứ ba, tập trung khắc phục tình trạng thiếu 3.708 biên chế giáo viên; rà soát cơ cấu môn học, thực hiện tuyển dụng, điều động, bố trí đội ngũ và đề xuất chính sách thu hút, giữ chân giáo viên tại vùng khó khăn, biên giới; trước mắt ưu tiên bổ sung giáo viên tiếng Anh, Tin học, Khoa học tự nhiên, Nghệ thuật và giáo viên mầm non phục vụ phổ cập trẻ 3-5 tuổi.
Thứ tư, đẩy nhanh đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, trường chuẩn quốc gia, nhà công vụ, trường nội trú và bán trú; triển khai mục tiêu năm 2026 có 20 xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3-5 tuổi; tổ chức thực hiện hiệu quả Đề án thành lập 13 trường nội trú tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới và Đề án sắp xếp mạng lưới trường lớp.
Thứ năm, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện; chuẩn hóa cơ sở dữ liệu ngành, học bạ số, học liệu số, tuyển sinh trực tuyến và dịch vụ công; nhân rộng mô hình trường học số, lớp học thông minh, thí điểm dạy học AI; bồi dưỡng năng lực số, đạo đức số, an toàn dữ liệu cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh.
Thứ sáu, triển khai hiệu quả Đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học; tổ chức dạy thí điểm ngoại ngữ 2 (tiếng Lào) tại một số trường thuộc các xã biên giới; tăng cường gắn kết giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học với doanh nghiệp và nhu cầu thị trường lao động; mở rộng hợp tác với các tổ chức giáo dục, công nghệ trong và ngoài nước.
Thứ bảy, tăng cường kiểm tra, giám sát, cập nhật số liệu và minh chứng thực hiện từng nhiệm vụ; hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa ngành Giáo dục và Đào tạo với Ủy ban nhân dân cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp; mở rộng liên kết với cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và tổ chức trong nước, quốc tế.