Ứng viên GS, PGS có thể không còn được dùng văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh để minh chứng năng lực ngoại ngữ

06/11/2026 09:15
Doãn Nhàn

GDVN - Dự thảo mới về bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư quy định 4 hình thức minh chứng năng lực ngoại ngữ, trong đó có công bố khoa học, trực tiếp giảng dạy bằng ngoại ngữ và văn bằng đào tạo ở nước ngoài.

Theo Dự thảo Thông tư quy định tiêu chuẩn, điều kiện và quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư (bản dự thảo ngày 5/11/2026) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ứng viên giáo sư, phó giáo sư phải có khả năng sử dụng ngoại ngữ trong hoạt động chuyên môn.

Cụ thể, ứng viên phải có khả năng sử dụng tiếng Anh để giảng dạy, trình bày, trao đổi, phản biện và công bố kết quả nghiên cứu.

Đối với các khối ngành III, IV, V, ứng viên được sử dụng tiếng Nga, Pháp, Trung hoặc Đức thay cho tiếng Anh, nhưng vẫn phải có khả năng giao tiếp cơ bản bằng tiếng Anh.

Ảnh minh họa: Giảng viên và sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội
Ảnh minh họa: Giảng viên và sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội

Văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh có thể không còn là minh chứng độc lập

Đáng chú ý, dự thảo quy định năng lực ngoại ngữ được minh chứng bằng văn bằng, chứng chỉ hoặc sản phẩm chuyên môn phù hợp theo hướng dẫn tại Phụ lục I.

Cụ thể, ứng viên cần cung cấp một trong 4 loại minh chứng hợp lệ sau:

  • Có công bố khoa học (bài báo, báo cáo kỷ yếu, sách chuyên khảo) bằng ngoại ngữ phù hợp với vai trò là tác giả chính.
  • Có xác nhận đã trực tiếp giảng dạy ít nhất một học phần hoặc chuyên đề bằng ngoại ngữ trong chương trình đào tạo hợp pháp.
  • Có văn bằng đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ hoặc tiến sĩ được học tập và cấp bằng toàn thời gian ở nước ngoài bằng ngoại ngữ tương ứng.
  • Có chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế còn hiệu lực, đạt trình độ tối thiểu Bậc 4 (B2) theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (VSTEP) hoặc tiêu chuẩn tương đương do Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận.

Theo Quyết định 37/2018/QĐ-TTg, ứng viên giáo sư, phó giáo sư phải sử dụng thành thạo ít nhất một ngoại ngữ phục vụ công tác chuyên môn và có khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh. Một trong những hình thức minh chứng năng lực ngoại ngữ là bằng cử nhân ngành ngôn ngữ nước ngoài.

Trên thực tế, trong những năm qua, đã có nhiều ứng viên xét chức danh giáo sư, phó giáo sư sử dụng văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh để chứng minh năng lực ngoại ngữ.

Tuy nhiên, dự thảo mới không còn liệt kê bằng cử nhân ngành ngôn ngữ nước ngoài là một hình thức minh chứng độc lập. Như vậy nếu quy định này được giữ nguyên khi ban hành, ứng viên sẽ không thể chỉ dựa vào văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh để đáp ứng yêu cầu minh chứng năng lực ngoại ngữ như trước đây.

Vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản yêu cầu rà soát, chấn chỉnh hoạt động đào tạo văn bằng 2 tại các cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt đối với ngành Ngôn ngữ Anh.

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, thời gian qua, phản ánh của các cơ quan báo chí và dư luận xã hội cho thấy công tác tổ chức đào tạo trình độ đại học đối với người đã có bằng đại học (đào tạo văn bằng 2), đặc biệt là đào tạo ngành Ngôn ngữ Anh tại một số cơ sở giáo dục đại học, còn tồn tại một số bất cập, làm ảnh hưởng đến uy tín và chất lượng của hệ thống giáo dục đại học.

Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học Nguyễn Tiến Thảo cho biết, theo dữ liệu trên Hệ thống cơ sở dữ liệu về giáo dục đại học (HEMIS), số người học văn bằng thứ hai ngành Ngôn ngữ Anh theo hình thức chính quy và vừa làm vừa học tăng từ 10.613 người năm 2023 lên 17.113 người năm 2025, tăng 61,2%.

Cùng giai đoạn, quy mô đào tạo từ xa ngành Ngôn ngữ Anh tăng 60,5%, từ 32.489 lên 52.129 người. Số đơn vị có người học theo phương thức từ xa tăng từ 20 lên 39. [1]

Những số liệu này cho thấy quy mô đào tạo văn bằng 2 và đào tạo từ xa ngành Ngôn ngữ Anh tăng đáng kể trong hai năm. Việc rà soát, chấn chỉnh hoạt động đào tạo đặt ra yêu cầu bảo đảm chất lượng văn bằng, năng lực thực chất của người học, trong đó có việc sử dụng văn bằng để chứng minh năng lực chuyên môn.

Siết chặt việc xác minh minh chứng, không tính trùng thành tích

Một nội dung đáng chú ý khác của dự thảo là quy định cụ thể về việc xác định và sử dụng minh chứng trong quá trình đánh giá ứng viên.

Theo đó, minh chứng phải hợp lệ, kiểm chứng được và phù hợp với tiêu chí, ngành của vị trí dự kiến bổ nhiệm. Ứng viên có trách nhiệm kê khai nội dung, thời điểm, vai trò, phần đóng góp và mã minh chứng; cơ sở đào tạo thực hiện xác minh khi cần thiết.

Đối với các thành tích thuộc ngành gần, liên ngành hoặc phục vụ ngành đào tạo khác, dự thảo cho phép xem xét nếu phần chuyên môn của ứng viên có đóng góp trực tiếp cho ngành của vị trí dự kiến bổ nhiệm. Hội đồng đánh giá phải ghi rõ căn cứ chấp nhận.

Về thành tích đào tạo, chỉ tính giờ trực tiếp giảng dạy trong chương trình từ trình độ đại học trở lên. Các hoạt động bồi dưỡng ngắn hạn, báo cáo hội nghị và hoạt động ngoài chương trình không được tính vào số giờ giảng bắt buộc.

Đáng chú ý, việc hướng dẫn sinh viên đại học, nghiên cứu viên và người nghiên cứu sau tiến sĩ không thay thế yêu cầu tối thiểu về hướng dẫn sau đại học, dù vẫn có thể được sử dụng để đánh giá năng lực theo tiêu chí phù hợp.

Dự thảo cũng quy định một kết quả chỉ được tính một lần khi kiểm tra cùng một yêu cầu định lượng. Các phiên bản hoặc hình thức thể hiện cùng một kết quả chỉ được tính riêng nếu có đóng góp mới độc lập. Một minh chứng có thể được sử dụng để kiểm tra yêu cầu tối thiểu và đánh giá năng lực, hoặc phục vụ nhiều tiêu chí nếu chứng minh được các khía cạnh khác nhau, nhưng không được chấm lặp cùng một đóng góp.

Đối với công bố khoa học, những công bố đã bị rút hoặc có kết luận không hợp lệ sẽ không được tính. Công bố có thông báo quan ngại chính thức của nhà xuất bản nhưng chưa có kết luận tạm thời không được sử dụng; ứng viên được giải trình và thay thế bằng thành tích đã có, đã kê khai trong thời hạn nhận hồ sơ.

Trường hợp tạp chí bị loại khỏi chỉ mục sau thời điểm công bố, bài báo không tự động mất giá trị. Hội đồng phải xem xét lý do, thời kỳ bị ảnh hưởng và các kết luận liên quan.

Tương tự, công trình bị hủy căn cứ công nhận, nghiệm thu hoặc bảo hộ làm mất điều kiện tính thành tích sẽ không được sử dụng. Tuy nhiên, việc loại bỏ công trình không đồng nghĩa với việc tự động xác định ứng viên vi phạm liêm chính học thuật; trách nhiệm cá nhân phải được xác định trên cơ sở căn cứ và kết luận của cơ quan có thẩm quyền.

Cuối cùng, Hội đồng đánh giá phải ghi rõ kết quả xác minh minh chứng và căn cứ chấp nhận. Những minh chứng gần thời điểm dự tuyển được đối chiếu để đánh giá năng lực hiện tại của ứng viên, thay vì chỉ dựa vào chức danh hoặc danh tiếng đã có.

Tài liệu tham khảo:

[1]: https://giaoduc.net.vn/giai-doan-2023-2025-so-nguoi-hoc-van-bang-2-nganh-ngon-ngu-anh-tang-612-post263826.gd

Doãn Nhàn