Đào tạo khối ngành kỹ thuật cần chú trọng chất lượng thực chất thay vì chạy theo tỷ lệ tốt nghiệp

13/01/2026 06:28
Hồng Mai

GDVN - Lãnh đạo trường ĐH đào tạo khối ngành kỹ thuật công nghệ cho rằng không chạy theo tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn bằng mọi giá, mà chú trọng đào tạo thực chất.

Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn được xem là một trong những chỉ báo phản ánh hiệu quả đào tạo ở bậc đại học. Thực tế cho thấy, chỉ số này giữa các nhóm ngành còn có sự chênh lệch nhất định, trong đó khối kỹ thuật công nghệ thường thấp hơn so với một số lĩnh vực khác.

Theo lãnh một số cơ sở đào tạo khối ngành kỹ thuật công nghệ, điều này bắt nguồn từ những đặc thù trong đào tạo khối ngành kỹ thuật. Bên cạnh đó, cần đánh giá chất lượng đào tạo toàn diện trên nhiều tiêu chí, thay vì coi tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn là mục tiêu tối thượng cần đạt được.

Chuẩn đầu ra nhóm ngành kỹ thuật công nghệ cao hơn so với nhiều nhóm ngành khác

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phùng Trung Nghĩa - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông (Đại học Thái Nguyên) cho biết, trong 2 năm gần đây, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn khối ngành kỹ thuật - công nghệ tại nhà trường dao động từ 54% - 64%. Cụ thể, năm 2024 đạt khoảng 64%, còn năm 2025 ở mức khoảng 54%.

Hiện nay, trường đào tạo 4 nhóm ngành chính gồm: kỹ thuật - công nghệ, máy tính - công nghệ thông tin, kinh tế - quản trị, nghệ thuật - truyền thông. Trong đó, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn của khối kỹ thuật - công nghệ và máy tính - công nghệ thông tin thấp hơn 2 nhóm ngành còn lại.

Đây là xu hướng phổ biến do đặc thù chương trình đào tạo của nhóm ngành kỹ thuật và công nghệ có khối lượng học tập lớn, tính liên thông cao và chuẩn đầu ra khắt khe hơn.

“Nguyên nhân chính ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn của nhóm ngành kỹ thuật - công nghệ và máy tính - công nghệ thông tin là do sinh viên còn nợ học phần, đặc biệt là các môn chuyên ngành khó và các môn có tính liên thông cao. Chỉ cần trượt một học phần quan trọng, sinh viên rất dễ bị kéo theo chậm tiến độ ở nhiều học phần tiếp theo, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tốt nghiệp đúng hạn”, thầy Nghĩa nói.

Điều này bắt nguồn từ đặc thù rõ rệt của khối ngành kỹ thuật công nghệ.

Thứ nhất, chương trình đào tạo có tính tích lũy và liên thông rất cao. Các học phần được thiết kế theo chuỗi logic, từ cơ sở đến chuyên sâu. Khi sinh viên không hoàn thành một học phần nền tảng, việc học các học phần tiếp theo sẽ bị gián đoạn.

Mặt khác, khối lượng kiến thức và yêu cầu học tập của nhóm ngành này khá lớn, đòi hỏi sinh viên phải có tư duy logic, khả năng tự học và đầu tư thời gian nghiêm túc.

Ngoài ra, sự không đồng đều về nền tảng đầu vào, đặc biệt ở các kiến thức toán học, tin học và tư duy thuật toán, khiến một bộ phận sinh viên gặp khó khăn khi tiếp cận các học phần chuyên sâu.

Thứ hai, chuẩn đầu ra của nhóm ngành kỹ thuật và công nghệ thông tin cao hơn so với nhiều nhóm ngành khác, không chỉ yêu cầu kiến thức mà còn bao gồm kỹ năng nghề nghiệp, khả năng ứng dụng công nghệ và thích ứng với sự thay đổi nhanh của khoa học công nghệ.

Với đặc thù của lĩnh vực công nghệ thông tin, nhiều sinh viên tham gia làm việc sớm tại doanh nghiệp, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn. Đây là mặt tích cực, nhưng nếu không cân đối hợp lý giữa học tập và làm việc thì cũng ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành chương trình.

image.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phùng Trung Nghĩa - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông, Đại học Thái Nguyên. Ảnh: website nhà trường

Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Song - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Miền Đông cho hay: “Tại trường, tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn của khối ngành kỹ thuật công nghệ và sức khỏe nhìn chung thấp hơn so với các ngành kinh tế, ngôn ngữ - văn hóa, truyền thông.

Năm 2025, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn của khối ngành kỹ thuật công nghệ tại trường đạt khoảng trên 70% và của toàn trường là trên 90%”.

Theo thầy Song, thực tế, những ngành đòi hỏi trình độ chuyên môn và tay nghề cao thường có tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn thấp hơn, do sinh viên cần nhiều thời gian hơn để rèn luyện năng lực và hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp.

Khối ngành công nghệ kỹ thuật có khối lượng học tập lớn hơn so với nhiều lĩnh vực khác. Chẳng hạn, ở trường, một số chương trình đào tạo kỹ sư công nghệ kỹ thuật yêu cầu sinh viên hoàn thành trên 150 tín chỉ, trong khi các chương trình cử nhân thuộc nhóm ngành kinh tế hoặc ngôn ngữ - văn hóa thường chỉ khoảng 120 tín chỉ.

Cùng với đó, chuẩn đầu ra tiếng Anh vẫn là một trong những thách thức đối với sinh viên.

Bên cạnh đó, hiện nay, chương trình đào tạo theo tín chỉ, cho phép người học chủ động đăng ký học phần và xây dựng lộ trình học tập cá nhân. Ngoài lộ trình mẫu kéo dài khoảng 4 năm, sinh viên có thể linh hoạt điều chỉnh tiến độ học tập phù hợp với năng lực, kéo dài thời gian đào tạo khi cần thiết vì những lý do cá nhân và không vượt quá quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Theo khoản 5, Điều 2, Thông tư 08/2021/TT-BGDĐT ban hành quy chế đào tạo trình độ đại học quy định chương trình đào tạo và thời gian học tập:

Thời gian tối đa để sinh viên hoàn thành khoá học được quy định trong quy chế của cơ sở đào tạo, nhưng không vượt quá 02 lần thời gian theo kế hoạch học tập chuẩn toàn khoá đối với mỗi hình thức đào tạo. Đối với sinh viên học liên thông đã được miễn trừ khối lượng tín chỉ tích lũy, thời gian tối đa để sinh viên hoàn thành khóa học được xác định trên cơ sở thời gian theo kế hoạch học tập chuẩn toàn khoá giảm tương ứng với khối lượng được miễn trừ.

Đồng tình với các quan điểm trên, Nhà giáo ưu tú, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn - Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh nhận định, thực tế cho thấy, sinh viên các ngành kỹ thuật gặp không ít khó khăn trong việc hoàn thành chương trình đào tạo đúng thời hạn, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau.

Trước hết, do đặc thù đào tạo, các chương trình kỹ thuật có khối lượng kiến thức lớn, với nhiều học phần nền tảng khoa học tự nhiên đòi hỏi tư duy logic và năng lực tự học cao. Trong khi đó, không ít sinh viên vẫn duy trì cách tiếp cận kiến thức thụ động, máy móc từ bậc trung học phổ thông, dẫn đến lúng túng khi chuyển sang môi trường đại học, kéo theo tình trạng học lại, chậm tiến độ.

Bên cạnh đó, nhiều sinh viên chưa kịp thích nghi với phương thức học tập ở bậc đại học, còn hạn chế về kỹ năng quản lý thời gian, tự nghiên cứu và làm việc nhóm, từ đó ảnh hưởng đến kết quả học tập cũng như tiến độ hoàn thành chương trình đào tạo.

Mặt khác, một bộ phận sinh viên chịu áp lực về kinh tế, phải tham gia làm thêm để trang trải chi phí học tập và sinh hoạt, dẫn đến việc phân tán thời gian và không thể tập trung đầy đủ cho việc học. Điều này tác động rõ rệt đến kết quả và tiến độ học tập, đặc biệt đối với các ngành kỹ thuật vốn đòi hỏi nhiều thời gian cho thực hành, thí nghiệm và đồ án.

Cùng với đó, sự gắn kết giữa đào tạo lý thuyết và thực tiễn sản xuất tại doanh nghiệp chưa thật sự chặt chẽ. Đợt thực tập tốt nghiệp ở một số chương trình chưa mang lại trải nghiệm thực chất cho sinh viên, nhất là ở giai đoạn cuối khóa, khi khối lượng học phần chuyên ngành và yêu cầu thực hiện khóa luận tốt nghiệp tăng cao.

image.jpg
Nhà giáo ưu tú, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn - Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường

Đánh giá chất lượng đào tạo không thể chỉ dựa vào tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn

Với những điểm khó mang tính đặc thù của khối ngành kỹ thuật, lãnh đạo cơ sở giáo dục cho rằng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn không nên là mục tiêu tối thượng, mà cần được nhìn nhận trong tổng thể chất lượng đào tạo.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phùng Trung Nghĩa nhấn mạnh: “Quan điểm xuyên suốt của Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông (Đại học Thái Nguyên) là không chạy theo tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn bằng mọi giá, mà chú trọng đào tạo thực chất, bảo đảm sinh viên khi ra trường có năng lực chuyên môn vững vàng, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và sự phát triển lâu dài của người học”.

Để nâng cao chất lượng đào tạo, Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông (Đại học Thái Nguyên) xác định hỗ trợ sinh viên nhóm ngành kỹ thuật - công nghệ và máy tính - công nghệ thông tin học tập hiệu quả là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.

Trước hết, trường rà soát, điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng linh hoạt, tăng cường các học phần bổ trợ, hỗ trợ sinh viên củng cố kiến thức nền tảng, đồng thời bảo đảm chuẩn đầu ra.

Bên cạnh đó, hệ thống cố vấn học tập và tư vấn học thuật được tăng cường, theo dõi sát tiến độ học tập của sinh viên, kịp thời cảnh báo và hỗ trợ những trường hợp có nguy cơ chậm tiến độ do nợ học phần.

Nhà trường cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý và tổ chức đào tạo, triển khai các mô hình học tập kết hợp, tạo điều kiện cho sinh viên học lại, học bù và hoàn thành học phần một cách linh hoạt.

Còn Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Miền Đông cho rằng, việc tăng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn không nên là mục tiêu duy nhất, mà phải gắn với yêu cầu đào tạo thực chất và bền vững. Tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn chưa phản ánh đầy đủ chất lượng đào tạo của một cơ sở giáo dục hay một chương trình đào tạo, mà chủ yếu thể hiện một phần trong công tác tổ chức giảng dạy và hỗ trợ sinh viên.

Ở nước ta, việc đánh giá chương trình đào tạo hiện được triển khai thông qua hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục. Chất lượng đào tạo được đánh giá trên nhiều tiêu chí khác, như qua tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm, mức độ đáp ứng yêu cầu công việc và sự hài lòng của nhà tuyển dụng đối với sinh viên tốt nghiệp. Quá trình đào tạo cũng được xem xét thông qua nhiều chỉ số khác, như công tác hỗ trợ và chăm sóc sinh viên trong suốt quá trình học tập.

ff454257-8078-470d-bf66-38766a678d6f-768x914.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Song - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Miền Đông. Ảnh: website nhà trường

Mục tiêu bảo đảm chất lượng đào tạo của nhà trường luôn được đặt lên hàng đầu, đồng thời gắn với các giải pháp cụ thể nhằm hỗ trợ sinh viên hoàn thành chương trình đúng hạn. Trong đó, công tác chăm sóc và hỗ trợ sinh viên được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm.

Nhà trường hiện duy trì Trung tâm trải nghiệm và hỗ trợ sinh viên, có chức năng theo dõi sát quá trình học tập của từng người học. Trên cơ sở kết quả và tiến độ học tập, các khoa phối hợp với trung tâm tư vấn, định hướng lộ trình học tập phù hợp cho sinh viên, qua đó giúp các em chủ động điều chỉnh kế hoạch học tập và hoàn thành chương trình theo đúng thời gian quy định.

Trường cũng triển khai chương trình đào tạo tiếng Anh bài bản ngay từ năm nhất của sinh viên, với các học phần tăng cường và lộ trình gồm 6 trình độ liên thông. Nhờ cách tiếp cận này, sinh viên có điều kiện tích lũy năng lực ngoại ngữ xuyên suốt quá trình học tập và đến giai đoạn cuối khóa, phần lớn có thể đáp ứng chuẩn đầu ra thông qua kỳ thi của nhà trường hoặc các chứng chỉ quốc tế như IELTS, qua đó hạn chế tình trạng chậm tốt nghiệp do chưa đạt yêu cầu ngoại ngữ.

Đối với kỹ năng mềm cho sinh viên, nhà trường đã xây dựng chương trình đào tạo khoa học, tiệm cận các chuẩn kỹ năng mềm quốc tế, nhằm trang bị cho sinh viên những năng lực cần thiết để thích ứng với môi trường làm việc hiện đại.

Về phía Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh, thầy Hoàn cho biết, trường xác định một số nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao chất lượng đào tạo nhóm ngành kỹ thuật trong thời gian tới.

Cụ thể, nhà trường sẽ rà soát, điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng tinh gọn, hiện đại, tăng cường tính liên thông giữa các học phần; đồng thời bảo đảm sự cân đối giữa kiến thức nền tảng, kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành, ứng dụng.

Bên cạnh đó, trường chú trọng đẩy mạnh gắn kết với doanh nghiệp và thực tiễn sản xuất, mở rộng các mô hình đào tạo gắn với thực hành, thực tập và dự án thực tế. Việc mời chuyên gia doanh nghiệp tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học và hướng dẫn khóa luận được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao tính ứng dụng của chương trình đào tạo, đồng thời tạo động lực học tập cho sinh viên.

Cùng với đó, nhà trường sẽ đổi mới phương pháp giảng dạy và đánh giá theo hướng tăng cường học tập theo dự án, học tập trải nghiệm; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và học liệu trực tuyến nhằm hỗ trợ sinh viên học tập linh hoạt, hiệu quả hơn.

Công tác hỗ trợ sinh viên cũng được chú trọng, đặc biệt đối với sinh viên năm nhất, thông qua hệ thống cố vấn học tập và các buổi sinh hoạt đầu khóa, góp phần trang bị kỹ năng học tập ở bậc đại học cũng như các kỹ năng mềm cần thiết.

Ngoài ra, trường tiếp tục tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm và xưởng thực hành, đáp ứng yêu cầu đào tạo kỹ thuật hiện đại trong bối cảnh chuyển đổi số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

“Với những định hướng trên, tôi tin rằng chất lượng đào tạo các ngành kỹ thuật sẽ ngày càng được nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên học tập hiệu quả, hoàn thành chương trình đúng thời hạn và đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường lao động trong giai đoạn mới”, thầy Hoàn nêu quan điểm.

Hồng Mai