Khoa học tự nhiên ít được chọn là môn thi thứ ba vào 10, học sinh dễ nảy sinh tâm lý xem nhẹ

27/01/2026 09:30
Trần Trang

GDVN -Giáo viên lo ngại học sinh sẽ hình thành tâm lý tránh né, đối phó khi môn Khoa học tự nhiên ít xuất hiện trong kỳ thi chuyển cấp quan trọng.

Sau hai năm triển khai Thông tư số 30/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Quy chế tuyển sinh trung học cơ sở và tuyển sinh trung học phổ thông, nhiều địa phương vẫn lựa chọn Ngoại ngữ là môn thi thứ ba trong Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10. Thực tế này cho thấy, vì nhiều nguyên nhân, môn Khoa học tự nhiên chưa được đặt ở vị trí ưu tiên trong một kỳ thi chuyển cấp có ý nghĩa then chốt.

Theo nhiều giáo viên, đây là nguy cơ tiềm ẩn đối với sự phát triển lâu dài của khoa học – công nghệ, khi học sinh đánh mất hứng thú với môn học ngay từ bậc phổ thông.

Thiếu kiến thức nền tảng, học sinh gặp khó khi học lên bậc cao hơn

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh bày tỏ, có rất ít địa phương lựa chọn tổ hợp Khoa học tự nhiên hoặc các tổ hợp tích hợp nhiều môn làm môn thi thứ ba. Qua 2 năm cho thấy, đa số địa phương ưu tiên Ngoại ngữ, dẫn đến nguy cơ môn học này bị bỏ qua.

image-10.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Ngân Chi.

Kỳ thi vào lớp 10 trung học phổ thông là một ngưỡng quan trọng, có tác động trực tiếp đến định hướng học tập của học sinh trung học cơ sở. Khi môn thi thứ ba chủ yếu là Ngoại ngữ, học sinh và phụ huynh có xu hướng tập trung ôn luyện các môn này, từ đó hình thành tình trạng học lệch, học tủ, làm suy giảm động lực học tập môn Khoa học tự nhiên ở bậc trung học cơ sở, bởi học sinh cho rằng môn học này không gắn trực tiếp với kỳ thi. Giáo viên cũng gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì hứng thú học tập của học sinh, kéo theo nguy cơ chất lượng dạy học suy giảm.

Không lựa chọn môn Khoa học tự nhiên trong kỳ thi vào 10, học sinh có thể bỏ qua những kiến thức khoa học cơ bản, ảnh hưởng tiêu cực đến sự hình thành và phát triển tư duy logic, tư duy thực nghiệm.

“Trong khi đó, Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 nhấn mạnh yêu cầu tích hợp kiến thức liên môn và phát triển năng lực toàn diện cho học sinh, nhưng việc ít địa phương chọn môn Khoa học tự nhiên trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 có thể làm suy yếu mục tiêu này. Hệ quả là học sinh trung học cơ sở có thể thiếu nền tảng kiến thức vững chắc, gặp khó khăn khi chuyển tiếp lên bậc trung học phổ thông” - thầy Dũng bày tỏ.

Cùng bàn luận về chủ đề này, Thạc sĩ Nguyễn Văn Vĩ - giáo viên dạy Vật lí - STEM tại Hà Nội cho hay, Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ thông có tác động rất lớn đến nhịp học tập ở bậc trung học cơ sở. Trên thực tế, bên cạnh các yếu tố kỹ thuật như ra đề hay tổ chức thi, các Sở Giáo dục và Đào tạo còn phải đối mặt với áp lực dư luận liên quan đến cảm nhận về mức độ quá tải và khả năng ôn tập của đại đa số học sinh. Đối với các bài thi tổ hợp Khoa học tự nhiên hoặc tích hợp, áp lực này thường lớn hơn, bởi khối lượng kiến thức bao gồm nhiều mảng nội dung khác nhau trong cùng một bài thi.

Trong khi đó, việc tích hợp trong chương trình hiện nay ở một số nơi mới dừng lại ở mức ghép các phần kiến thức của Vật lí, Hóa học và Sinh học, khiến mạch liên kết chưa thật sự chặt chẽ, logic và khoa học. Điều này dễ tạo cho học sinh cảm giác “học gộp”, khó tiếp cận kiến thức một cách sâu sắc. Khi môn Khoa học tự nhiên ít được lựa chọn làm môn thi thứ ba, học sinh có xu hướng tự động hạ thấp mức độ ưu tiên, chỉ học cầm chừng, lựa chọn phần dễ, thậm chí học lệch, học tủ, để tập trung cho những môn chắc chắn xuất hiện trong kỳ thi.

"Trên lớp, điều này thể hiện rất rõ qua câu hỏi quen thuộc của học sinh: “Môn này có thi không?”. Khi câu trả lời là “chưa chắc”, mức độ tập trung giảm sút rõ rệt, đồng thời những hoạt động học tập đòi hỏi thời gian và chiều sâu như thí nghiệm, dự án nhỏ hay các hoạt động trải nghiệm cũng dễ bị thu hẹp.

Tóm lại, xu hướng này không chỉ khiến môn Khoa học tự nhiên bị xem nhẹ, mà còn làm cho việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực, đặc biệt đối với các môn học tích hợp, khó đạt được đúng tinh thần của chương trình" - thầy Vĩ chia sẻ.

585544239-24844590375182626-3839005047506955355-n.jpg
Thạc sĩ Nguyễn Văn Vĩ - giáo viên dạy Vật lí - STEM tại Hà Nội. Ảnh: NVCC.

Nỗi lo về nguồn nhân lực lĩnh vực STEM có thể bị ảnh hưởng

Thạc sĩ Nguyễn Văn Vĩ chỉ ra, hệ lụy lớn nhất là học sinh dần đánh mất nền tảng tư duy khoa học, được hình thành thông qua các bước quan sát, đặt câu hỏi, tiến hành thử nghiệm và rút ra kết luận. Khi thiếu nền tảng này, giáo dục STEM rất dễ rơi vào tình trạng nặng về hình thức, thiên về hoạt động trải nghiệm cho vui, mà chưa thực sự giúp học sinh hình thành năng lực khoa học một cách bền vững.

Khi bước lên bậc trung học phổ thông, các môn Vật lí, Hóa học và Sinh học trở nên khó hơn nhiều, đòi hỏi tư duy logic, khả năng phân tích và nền kiến thức vững chắc. Nếu không được chuẩn bị đầy đủ từ trước, học sinh dễ nảy sinh tâm lý sợ khoa học, thiếu tự tin, từ đó né tránh việc lựa chọn các môn học và tổ hợp liên quan đến khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Điều này tác động trực tiếp đến định hướng nghề nghiệp và lựa chọn ngành học trong tương lai.

Trong khi đó, việc xây dựng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao không thể bắt đầu một cách muộn màng. Nền tảng tư duy và hứng thú đối với khoa học cần được hình thành ngay từ bậc trung học cơ sở. Nếu chờ đến các bậc học cao hơn mới tìm cách bù đắp, điều chỉnh những khoảng trống về kiến thức và năng lực, thì quá trình đào tạo sẽ gặp rất nhiều khó khăn và khó đạt được hiệu quả như mong muốn.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng cũng cho hay, về lâu dài, việc học sinh ít coi trọng môn Khoa học tự nhiên có thể tạo ra những “lỗ hổng” lớn trong giáo dục khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học, vốn được xem là nền tảng cho sự phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Điều này có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực khoa học, công nghệ thông tin, kỹ thuật và khoa học tự nhiên.

Các trường đại học đào tạo khối khoa học và công nghệ cũng sẽ đối mặt với khó khăn trong việc bảo đảm chất lượng đầu vào. Giáo dục khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học đòi hỏi học sinh được tiếp cận sớm với tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn, nhưng nếu môn Khoa học tự nhiên ít được học sinh ưu tiên, các em sẽ thiếu động lực theo đuổi các lĩnh vực này ở những bậc học cao hơn.

image-11.jpg
Một cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học cơ sở. Ảnh: Phạm Linh.

"Việc môn Khoa học tự nhiên không được nhiều địa phương lựa chọn trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 không chỉ gây tác động ngắn hạn đến hoạt động dạy và học ở bậc trung học cơ sở, mà còn có thể ảnh hưởng đến mục tiêu dài hạn của giáo dục khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học cũng như chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia.

Để khắc phục tình trạng này, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có định hướng khuyến khích các địa phương đa dạng hóa môn thi thứ ba, tăng cường đưa môn Khoa học tự nhiên và các nội dung tích hợp vào chương trình thi, đồng thời đẩy mạnh công tác hướng nghiệp cho học sinh từ sớm.

Bên cạnh đó, các nhà trường cần tăng cường tổ chức các hoạt động trải nghiệm STEM nhằm khơi dậy niềm yêu thích và đam mê khoa học ở học sinh. Chỉ khi bảo đảm sự cân bằng giữa các môn học, giáo dục Việt Nam mới có thể thực sự hướng tới mục tiêu phát triển bền vững" - thầy Dũng bày tỏ.

Là giáo viên nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy STEM, thầy Vĩ cho rằng, cần đổi mới cách tổ chức dạy học theo hướng giúp học sinh “thấy được giá trị sử dụng” của kiến thức khoa học tự nhiên trong đời sống hằng ngày. Các nội dung học tập nên được gắn với những vấn đề quen thuộc như điện, nước, môi trường, sức khỏe, qua đó giúp học sinh nhận ra khoa học không xa rời thực tiễn. Bên cạnh đó, việc tăng cường các thí nghiệm đơn giản, dễ triển khai nhưng tạo được sự hứng thú và bất ngờ cho học sinh sẽ góp phần khơi gợi tò mò và niềm yêu thích đối với môn học.

Song song với đổi mới phương pháp dạy học, công tác đánh giá cũng cần được thực hiện một cách công bằng và có trọng lượng, chuyển từ việc chỉ kiểm tra ghi nhớ kiến thức sang đánh giá năng lực học sinh. Các hình thức chấm điểm cho hoạt động thực hành, sản phẩm dự án cần được ghi nhận chính thức, để học sinh cảm nhận rõ rằng việc học khoa học tự nhiên không khiến các em bị thiệt thòi so với những môn học khác.

Ngoài giờ học chính khóa, nhà trường cần duy trì thường xuyên các sân chơi học thuật như câu lạc bộ STEM, ngày hội khoa học hoặc các cuộc thi quy mô nhỏ trong phạm vi trường học, tránh tình trạng tổ chức mang tính phong trào, làm một lần cho có.

Cuối cùng, sự phối hợp với phụ huynh giữ vai trò đặc biệt quan trọng, bởi nếu người lớn vẫn quan niệm rằng “môn này không thi thì không cần học”, học sinh sẽ rất khó coi trọng và đầu tư nghiêm túc cho các môn Khoa học tự nhiên.

Trần Trang