Cùng với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp đang khẳng định vai trò ngày càng rõ nét trong hệ thống giáo dục quốc dân, trực tiếp góp phần cung ứng nguồn nhân lực có kỹ năng tay nghề, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.
Trước những đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng và cơ cấu nhân lực, lãnh đạo nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp nhìn nhận việc ban hành Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025 (sửa đổi) cùng các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành luật là một bước tiến, tạo hành lang pháp lý vững chắc để lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp phát triển phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội.
Không ngừng đổi mới để bảo đảm chất lượng giáo dục bền vững
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, hiệu trưởng một trường cao đẳng ở Thanh Hóa cho rằng, Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) có 2 chính sách đột phá quan trọng, một là đổi mới cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tái cấu trúc mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, phát triển chương trình trung học nghề; hai là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp.
Bên cạnh đó, điểm đột phá có ý nghĩa lâu dài nhất của Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) là việc khẳng định và mở rộng quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đi kèm với đó là yêu cầu về trách nhiệm giải trình. Quy định này trực tiếp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc kéo dài trong quản lý nhà trường, ví dụ như sự phụ thuộc vào cơ chế “xin – cho”, hạn chế trong chủ động mở ngành, điều chỉnh chương trình đào tạo, tổ chức bộ máy và sử dụng nguồn lực.
“Khi được trao quyền tự chủ rõ ràng hơn, cơ sở giáo dục nghề nghiệp có điều kiện chủ động thích ứng với nhu cầu của thị trường lao động và yêu cầu phát triển của địa phương”, vị này chia sẻ.
Bên cạnh đó, vị này cho rằng, cơ sở giáo dục buộc phải chuyển sang tư duy quản trị hiện đại, chủ động ra quyết định và chịu trách nhiệm trước xã hội, cơ quan quản lý và người học.
“Trong tổ chức đào tạo, quyền tự chủ tạo điều kiện để trường linh hoạt đổi mới chương trình, phương thức giảng dạy và tăng cường hợp tác với doanh nghiệp. Đồng thời, trách nhiệm giải trình sẽ là động lực thúc đẩy trường không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả hoạt động”, vị này bày tỏ.
Cùng quan điểm, Tiến sĩ Võ Hồng Sơn - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Thương mại (Đà Nẵng) đánh giá việc trao quyền tự chủ toàn diện cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là điểm mang tính đột phá, nhất là khi không còn bị ràng buộc cứng nhắc bởi khả năng tự chủ tài chính như trước.
Theo thầy Sơn, việc điều chỉnh này tạo điều kiện để các trường cao đẳng chủ động hơn trong toàn bộ hoạt động trọng tâm, từ xác định quy mô, hình thức tuyển sinh cho đến xây dựng, thẩm định chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động. Việc tinh giản và “nới lỏng” các thủ tục hành chính sẽ giúp nhà trường nâng cao tính linh hoạt và năng lực cạnh tranh. Dĩ nhiên, đi cùng với quyền tự chủ là yêu cầu về trách nhiệm giải trình rõ ràng, nhằm bảo đảm mọi hoạt động đều hướng đến chất lượng thực chất, thay vì chạy theo quy mô hay số lượng tuyển sinh.
“Trao quyền tự chủ toàn diện cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp tạo động lực quan trọng thúc đẩy sự thay đổi trong tư duy quản trị của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Khi đó, nhà trường cũng phải đối mặt với áp lực lớn hơn trong việc khẳng định uy tín, thương hiệu và chất lượng đầu ra.
Mô hình quản trị sẽ dần chuyển theo hướng chuyên nghiệp, trong đó vai trò tư vấn của hội đồng khoa học được đề cao. Những cam kết liên quan đến chất lượng đào tạo hay hỗ trợ việc làm cho người học cần được công khai, minh bạch và chịu sự giám sát của xã hội.
Chính yêu cầu về trách nhiệm giải trình sẽ buộc các trường không ngừng đổi mới, hoàn thiện quy trình và phương pháp đào tạo để bảo đảm chất lượng bền vững”, thầy Sơn chia sẻ.
Cần điều kiện cụ thể để triển khai hiệu quả
Luật sửa đổi đề cập đến mô hình trung học nghề. Theo lãnh đạo cơ sở giáo dục nghề nghiệp, mô hình này mở ra nhiều cơ hội. Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả và không rơi vào tình trạng hình thức hay trùng lặp, cần có lộ trình rõ ràng và đồng bộ.
Theo thầy Sơn, trước hết hệ thống văn bản hướng dẫn cần sớm được ban hành đầy đủ, trong đó quy định cụ thể về chuẩn đội ngũ giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất cũng như định mức kinh tế - kỹ thuật phù hợp với đặc thù mô hình.
“Yếu tố then chốt nằm ở việc thiết kế chương trình đào tạo tích hợp một cách khoa học, bảo đảm học sinh vừa hoàn thành khối kiến thức văn hóa phổ thông thiết yếu, vừa hình thành kỹ năng nghề vững chắc mà không bị quá tải. Đồng thời, các địa phương song song với quá trình rà soát mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cần tập trung đầu tư cho những đơn vị đủ điều kiện, tránh triển khai dàn trải”, thầy Sơn cho biết.
Trong khi đó, vị hiệu trưởng trường cao đẳng cho rằng, cần hội tụ một số điều kiện cụ thể để triển khai hiệu quả mô hình trung học nghề.
Thứ nhất, phải xây dựng khung pháp lý rõ ràng và thống nhất, xác định cụ thể vị trí, chức năng của trung học nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân. Cần hướng dẫn thực hiện các môn học thuộc chương trình trung học phổ thông trong chương trình trung học nghề.
Thứ hai, việc xây dựng chương trình đào tạo cần được thiết kế theo hướng tích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho người học được học tiếp, liên thông ở các trình độ cao hơn. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần chủ động xây dựng chương trình đào tạo chi tiết theo hướng tích hợp.
Thứ ba, phải xây dựng được đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu kép, cùng với cơ chế đào tạo, bồi dưỡng và chính sách đãi ngộ phù hợp.
Bên cạnh đó, sự tham gia thực chất của doanh nghiệp cũng là yếu tố quyết định để bảo đảm chất lượng và đầu ra, tránh triển khai hình thức.
Theo tìm hiểu của phóng viên, quy định về cơ sở dữ liệu chuyên ngành về giáo dục nghề nghiệp cũng nhận được nhiều sự quan tâm của lãnh đạo cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
“Trong giai đoạn đầu triển khai sẽ không tránh khỏi những khó khăn liên quan đến hạ tầng công nghệ, năng lực cán bộ và việc chuẩn hóa dữ liệu. Tuy nhiên, về lâu dài, việc quản lý bằng dữ liệu số mang lại nhiều lợi ích. Bởi, đây sẽ là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, tăng tính công khai, minh bạch, giảm thủ tục hành chính và tạo thuận lợi cho công tác chỉ đạo, điều hành. So với phương thức quản lý truyền thống, dữ liệu số giúp nhà trường quản lý thống nhất, kịp thời và chính xác hơn”, hiệu trưởng trường cao đẳng ở Thanh Hóa chia sẻ.
Còn với Trường Cao đẳng Thương mại, nhà trường đang từng bước triển khai chuyển đổi số toàn diện, từ học liệu, giáo trình cho đến quản lý quá trình đào tạo. Việc cập nhật dữ liệu kịp thời, chính xác giúp lãnh đạo nhà trường nắm bắt sát tình hình tuyển sinh, đào tạo, qua đó đưa ra các quyết định điều hành phù hợp. Ngoài ra, tính minh bạch của dữ liệu cũng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người lao động trong việc tra cứu, xác thực thông tin, góp phần củng cố niềm tin vào chất lượng đào tạo của nhà trường.
“Chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu trong quản trị giáo dục. Việc hình thành và vận hành cơ sở dữ liệu chuyên ngành dùng chung giúp tăng cường kết nối giữa cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý và xã hội”, thầy Sơn cho biết.
Đẩy mạnh truyền thông chính sách để các bên hiểu đúng về Luật
Nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026, lãnh đạo cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã đề xuất nhiều giải pháp nhằm sớm đưa Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả trong thực tiễn.
Cụ thể, theo lãnh đạo trường cao đẳng, các bộ, ngành và cơ quan quản lý cần sớm ban hành đầy đủ, đồng bộ các văn bản hướng dẫn thi hành luật, bảo đảm quy định rõ ràng, thống nhất và dễ áp dụng. Cùng với đó, cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với cơ chế giám sát, đánh giá dựa trên kết quả, hạn chế sự can thiệp hành chính không cần thiết. Ngoài ra, việc đầu tư cho chuyển đổi số, hoàn thiện hạ tầng dữ liệu và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý cũng cần được xác định là yêu cầu cấp thiết để đáp ứng những đòi hỏi mới đặt ra.
Từ thực tiễn triển khai tại nhà trường, thầy Sơn cho rằng, để các quy định mới của Luật được thực thi hiệu quả, cần tập trung vào ba nhóm giải pháp trọng tâm.
Đó là đẩy mạnh công tác truyền thông chính sách, giúp đội ngũ nhà giáo, người học và phụ huynh hiểu đúng, hiểu đầy đủ tinh thần cũng như những cơ hội mà Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) mang lại.
Thêm nữa, cần tăng cường gắn kết với doanh nghiệp theo hướng thực chất hơn, thông qua các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu vào quá trình đào tạo, từ đặt hàng chỉ tiêu, xây dựng chương trình đến hỗ trợ trang thiết bị thực hành.
Cuối cùng, cần tăng cường giám sát và kịp thời tháo gỡ những vướng mắc phát sinh. Trong đó, cơ quan quản lý cần thường xuyên lắng nghe phản hồi từ các cơ sở đào tạo để điều chỉnh những quy định chưa phù hợp, bảo đảm khung pháp lý luôn đồng hành và tạo động lực cho sự phát triển của giáo dục nghề nghiệp.