Đề xuất quy định chế độ phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với đội ngũ nhà giáo trực tiếp giảng dạy tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập trong Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp đang nhận được nhiều sự quan tâm của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên cả nước.

Giữ chân nhà giáo giỏi, giảm tình trạng chuyển dịch từ giáo dục nghề nghiệp sang khu vực doanh nghiệp

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sỹ Trần Phương – Hiệu trưởng Trường Trung cấp Việt Giao bày tỏ, chế độ phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là rất cần thiết để đảm bảo quyền lợi và sức khỏe cho giáo viên giáo dục nghề nghiệp.

Trên thực tế, nhiều giáo viên dạy nghề thường xuyên làm việc trong môi trường thực hành tiềm ẩn rủi ro (tiếp xúc với hóa chất độc hại, tiếng ồn lớn, nhiệt độ cao, nguy cơ lây nhiễm bệnh,...). Chính vì vậy, việc có phụ cấp đặc thù sẽ bù đắp phần nào những điều kiện lao động khắc nghiệt, giúp bảo vệ quyền lợi chính đáng cho đội ngũ nhà giáo dạy nghề. Đồng thời, tạo động lực để giáo viên yên tâm công tác và gắn bó lâu dài với nghề nghiệp của mình, thay vì lo lắng về nguy cơ sức khỏe mà không được hỗ trợ.

Cũng theo thầy Phương, bên cạnh việc đảm bảo công bằng cho giáo viên, chính sách phụ cấp theo dự thảo được thiết kế rất hợp lý, phản ánh đúng mức độ rủi ro của từng lĩnh vực giảng dạy.

Cụ thể, mức phụ cấp được phân theo số lượng yếu tố nguy hiểm mà giáo viên phải tiếp xúc – nhằm bảo đảm tính công bằng, ai chịu rủi ro cao hơn sẽ hưởng phụ cấp cao hơn.

Theo dự thảo, giáo viên dạy thực hành sẽ được hưởng phụ cấp với hệ số từ 0,1 đến 0,4 lần lương cơ sở, tùy thuộc vào việc môi trường giảng dạy có từ một đến bốn yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Cách phân mức này giúp ghi nhận đúng đặc thù công việc của từng giáo viên: ví dụ giáo viên nghề hàn tiếp xúc với tiếng ồn, khói độc, nhiệt độ cao có thể hưởng mức cao hơn giáo viên chỉ chịu một yếu tố nguy hại.

Về mặt tài chính, chế độ phụ cấp này sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho giáo viên dạy nghề trong môi trường nguy hiểm. Mức phụ cấp 0,1–0,4 lần lương cơ sở tương đương khoảng 10% đến 40% lương cơ bản của giáo viên, không phải con số quá lớn nhưng đủ tạo thu nhập bổ sung ổn định hàng tháng. Phụ cấp này được tính dựa trên số giờ dạy thực hành thực tế của giáo viên ở các ngành nghề nguy hiểm, và sẽ được chi trả cùng kỳ lương hàng tháng. Đáng chú ý, khoản phụ cấp độc hại này không tính vào tiền đóng bảo hiểm xã hội, nghĩa là giáo viên sẽ nhận được trọn vẹn phần hỗ trợ này.

g1-1.jpg
Sinh viên Trường Trung cấp Việt Giao. Ảnh: Website Nhà trường.

“Nhìn chung, phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là cần thiết để ngành giáo dục nghề nghiệp thu hút và giữ chân những nhà giáo giỏi. Thực tế hiện nay, mức lương và phụ cấp của giáo viên dạy nghề còn thấp so với thu nhập trong doanh nghiệp, khiến nhiều người có tay nghề cao không mặn mà với việc giảng dạy.

Do đó, việc có phụ cấp này sẽ phần nào tăng tính hấp dẫn cho nghề giáo dục nghề nghiệp, giúp giảm tình trạng giáo viên giỏi rời trường sang doanh nghiệp, đồng thời khuyến khích thợ lành nghề, nghệ nhân tham gia giảng dạy. Đồng thời, với giáo viên, thu nhập tăng thêm giúp họ có điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt hơn (ví dụ khám sức khỏe định kỳ, dinh dưỡng, bảo hộ lao động cá nhân), bù đắp cho rủi ro nghề nghiệp”, thầy Phương chia sẻ.

Cùng bàn về vấn đề trên, Tiến sĩ Đặng Văn Sáng - Hiệu trưởng Trường Trung cấp Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, căn cứ theo Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) cũng như xuất phát từ thực tiễn hoạt động giảng dạy, đào tạo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện nay, nhằm bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của nhà giáo cũng như nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật.

Về ưu điểm, chính sách này nếu được ban hành là phù hợp với tính chất đặc thù của giáo dục nghề nghiệp, nhất là với giảng viên, giáo viên dạy thực hành, thực tập nghề, thường xuyên phải tiếp xúc với môi trường lây nhiễm bệnh; Hóa chất, điện, nhiệt, tiếng ồn, bụi; Máy móc, thiết bị công nghiệp có nguy cơ tai nạn lao động cao,...

Chính vì vậy, việc quy định phụ cấp nặng nhọc, độc hại thể hiện sự thừa nhận đúng mức đặc thù lao động sư phạm trong giáo dục nghề nghiệp, khác với giáo dục phổ thông hay giáo dục đại học hàn lâm. Đồng thời, góp phần bảo đảm quyền lợi cho nhà giáo khi được bù đắp một phần rủi ro sức khỏe và hao mòn nghề nghiệp. Từ đó, tăng động lực để họ gắn bó lâu dài với nghề; Chủ động tham gia giảng dạy các nghề “khó”, nghề độc hại mà xã hội đang rất cần nhân lực. Đặc biệt, chính sách này cũng phù hợp với chủ trương thu hút và giữ chân nhân lực trong bối cảnh thiếu giáo viên dạy nghề trình độ cao, giúp thu hút kỹ sư, thợ lành nghề lâu năm tham gia giảng dạy; Giảm tình trạng chuyển dịch từ giáo dục nghề nghiệp sang khu vực doanh nghiệp; Bảo đảm tính kế thừa hệ thống pháp luật.

492022535-1198801065590588-8803638960093490025-n.png
Sinh viên Trường Trung cấp Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh trong giờ học. Ảnh: Website Nhà trường.

Tuy nhiên mức phụ cấp còn thấp so với rủi ro nghề nghiệp, chưa tương xứng với mức độ nguy hiểm và chưa đủ hấp dẫn so với thu nhập trong doanh nghiệp sản xuất, chưa gắn chặt với điều kiện an toàn lao động. Nếu không cải thiện, chính sách dễ mang tính hình thức, hiệu quả thấp.

Do đó, theo thầy Sáng, cần bổ sung rõ nguyên tắc xác định môi trường làm việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, đồng thời xây dựng nguyên tắc phân loại theo nhóm ngành, nghề và cấp độ rủi ro làm cơ sở cho các văn bản hướng dẫn thực hiện. Cùng với đó, cần mở rộng và làm rõ đối tượng được hưởng chế độ phụ cấp theo tính chất công việc thực tế, không bó hẹp theo biên chế. Việc thực hiện chính sách phải bảo đảm những nhà giáo trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn thực hành, thường xuyên làm việc trong môi trường độc hại đều được xem xét hưởng phụ cấp, không phân biệt cơ sở công lập hay tư thục, đồng thời điều chỉnh mức phụ cấp theo hướng linh hoạt, sát với thực tiễn lao động.

Theo thầy Sáng, nên cho phép áp dụng nhiều mức phụ cấp khác nhau tương ứng với mức độ nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm của từng ngành, nghề. Bên cạnh phụ cấp tiền lương, có thể kết hợp các chế độ hỗ trợ khác như bồi dưỡng hiện vật, tổ chức khám sức khỏe định kỳ chuyên sâu cho nhà giáo.

Đặc biệt, cần gắn việc chi trả phụ cấp với trách nhiệm cải thiện điều kiện làm việc, từng bước giảm thiểu rủi ro nghề nghiệp của cơ sở đào tạo. Song song với chính sách phụ cấp, cần quy định rõ trách nhiệm đầu tư trang thiết bị bảo hộ, ứng dụng công nghệ an toàn, tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá môi trường thực hành tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Mục tiêu lâu dài là giảm thiểu yếu tố độc hại, chứ không chỉ dừng lại ở việc “trả tiền cho rủi ro”.

Ngoài ra, do đặc thù của giáo dục nghề nghiệp, hằng năm nhà giáo không chỉ giảng dạy trong nhà trường mà còn tham gia thực tập thực tế, cập nhật công nghệ, quy trình sản xuất tại doanh nghiệp, thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với môi trường lao động ngoài thực tế.

Vì vậy, thầy Sáng đề nghị quy định nguyên tắc xác định ngành, nghề dạy học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo hướng: những ngành, nghề đào tạo trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp có nội dung thực hành, thực tập gắn với các ngành, nghề sản xuất, kinh doanh đã được xác định là nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì nhà giáo trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn các ngành, nghề đó cũng được xác định làm việc trong điều kiện tương ứng. Nguyên tắc này sẽ bảo đảm phù hợp với thực tiễn đào tạo gắn với sản xuất, tránh đánh giá manh mún, chủ quan giữa các cơ sở, đồng thời tạo sự thống nhất giữa chính sách lao động, an toàn vệ sinh lao động và chính sách đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp.

Phù hợp với chủ trương tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Mặt khác, Điều 22 của dự thảo cũng nêu rõ, người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp chịu trách nhiệm xác định mức phụ cấp đối với nhà giáo dạy thực hành theo quy định.

Theo thầy Phương, khi dự thảo được ban hành, sẽ tạo cơ chế thực hiện linh hoạt, trao quyền cho từng đơn vị. Người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ chịu trách nhiệm xác định mức phụ cấp cụ thể cho từng giáo viên dựa trên số yếu tố nguy hại mà họ thực tế gặp trong giảng dạy. Như vậy, nhà trường có thể chủ động đánh giá điều kiện làm việc (phòng thực hành có nóng vượt chuẩn không, có nhiều bụi độc không,...) và quyết định mức phụ cấp phù hợp theo khung quy định.

Dự thảo cũng cho phép các trường quy định thêm phụ cấp cao hơn mức tối thiểu nếu điều kiện thực tế đòi hỏi, miễn là không thấp hơn mức sàn của Nghị định. Điều này đảm bảo tính linh hoạt - nơi nào rủi ro đặc thù hơn có thể hỗ trợ giáo viên nhiều hơn. Về thủ tục chi trả, do phụ cấp được trả cùng lương hàng tháng và tính theo giờ dạy thực tế, các phòng tài chính – kế toán của trường chỉ cần cộng thêm khoản phụ cấp dựa trên báo cáo giờ dạy thực hành nguy hiểm của giáo viên. Quy trình này không phức tạp, có thể thực hiện song song với chế độ chấm công giảng dạy thông thường.

Thách thức duy nhất có thể là việc giám sát và đánh giá chính xác mức độ nguy hại trong một số trường hợp đặc thù. Tuy nhiên, vì danh mục ngành nghề nguy hiểm đã có sẵn, phần lớn giáo viên thuộc các ngành đó sẽ mặc nhiên được hưởng ít nhất mức phụ cấp 0,1. Việc xác định lên các mức 0,2 hay 0,3, 0,4 đòi hỏi đánh giá môi trường chi tiết hơn (ví dụ đo độ ồn, nhiệt độ, nồng độ khí độc,…). Nhà trường có thể cần xây dựng quy trình nội bộ hoặc dựa vào tiêu chuẩn an toàn lao động để xác minh số yếu tố nguy hại một cách khách quan. Nhìn chung, với hướng dẫn từ Bộ Giáo dục và Đào tạo và kinh nghiệm quản lý, các trường hoàn toàn có khả năng triển khai chính sách này một cách hiệu quả và minh bạch.

Đồng tình với quan điểm trên, Tiến sĩ Đặng Văn Sáng cho rằng, việc giao quyền cho người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp xác định mức phụ cấp là phù hợp với chủ trương tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Cách làm này cho phép các cơ sở linh hoạt điều chỉnh chính sách phụ cấp theo đặc thù từng ngành, nghề đào tạo, mức độ nguy hiểm, cường độ lao động cũng như điều kiện làm việc thực tế của đội ngũ nhà giáo.

Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Đặng Văn Sáng, cơ chế này cũng tiềm ẩn một số băn khoăn và hạn chế có thể phát sinh trong quá trình thực hiện.

Thứ nhất là, nguy cơ thiếu công bằng giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Trong trường hợp không có hệ thống tiêu chí hướng dẫn cụ thể, cùng một loại công việc nhưng nhà giáo ở các cơ sở khác nhau có thể được hưởng mức phụ cấp không giống nhau, dễ dẫn đến tâm lý so sánh, thắc mắc hoặc phát sinh khiếu nại.

Thứ hai là, rủi ro về tính chủ quan trong quyết định của người đứng đầu. Khi quyền xác định mức phụ cấp tập trung vào một cá nhân, có thể xuất hiện yếu tố cảm tính, nể nang hoặc thiếu minh bạch, trong khi nhà giáo lại chưa có nhiều cơ chế phản biện hay bảo vệ quyền lợi nếu không đồng thuận với quyết định được đưa ra.

Thứ ba là, áp lực về nguồn lực tài chính của các cơ sở. Đối với những cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn gặp khó khăn về ngân sách, khả năng lựa chọn mức phụ cấp thấp để cân đối chi tiêu là khá lớn, dù điều kiện làm việc thực tế của nhà giáo đòi hỏi mức hỗ trợ cao hơn, từ đó làm giảm hiệu quả của chính sách khuyến khích.

Từ những phân tích trên, thầy Sáng cho rằng, cần sớm ban hành hệ thống tiêu chí hướng dẫn cụ thể làm căn cứ xác định mức phụ cấp, bao gồm mức độ nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm của ngành, nghề; thời lượng giảng dạy thực hành; điều kiện và môi trường làm việc; cũng như loại hình, lĩnh vực đào tạo. Bên cạnh đó, cần quy định rõ quy trình xác định và quyết định mức phụ cấp, trong đó có sự tham gia của hội đồng trường, tổ chức công đoàn hoặc tập thể chuyên môn, đồng thời bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện. Cuối cùng, cần thiết lập cơ chế giám sát và giải quyết khiếu nại, cho phép cơ quan quản lý cấp trên tiến hành kiểm tra, thanh tra việc áp dụng phụ cấp, qua đó bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của đội ngũ nhà giáo dạy thực hành.

Không dễ dàng để triển khai chính sách

Được biết, đây không phải là lần đầu tiên chính sách phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp được đặt ra. Trước đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 113/2015/NĐ-CP ngày 9/10/2015 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 15/2019/NĐ-CP ngày 1/2/2019); sau đó có Nghị định số 1311/VBHN-BLĐTBXH ngày 5/4/2019 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đều quy định về phụ cấp đặc thù, phụ cấp ưu đãi, phụ cấp trách nhiệm công việc và phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập.

Tuy nhiên, theo Thạc sĩ Nguyễn Quang Khải – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Tiền Giang, trên thực tế, nhiều năm nay Trường Cao đẳng Tiền Giang cũng như một số trường cao đẳng, trung cấp tại khu vực phía Nam vẫn chưa triển khai được chính sách phụ cấp này do nhiều nguyên nhân. Trước hết là khó khăn về nguồn kinh phí trong bối cảnh các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thực hiện cơ chế tự chủ; việc chi trả phụ cấp chỉ có thể thực hiện khi có sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, đặc biệt là ngân sách địa phương. Bên cạnh đó, việc xác định mức độ nặng nhọc, độc hại không thể dựa trên cảm tính hay chỉ căn cứ vào chương trình đào tạo, chương trình môn học, mà cần được đo đạc, đánh giá cụ thể bởi các cơ quan chuyên môn tại từng xưởng, phòng thực hành.

Theo Thạc sĩ Nguyễn Quang Khải, nếu có phụ cấp nặng nhọc, độc hại cho đội ngũ nhà giáo dạy tích hợp (kết hợp lý thuyết và thực hành) sẽ góp phần động viên, bù đắp phần nào công sức, sự vất vả của nhà giáo trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, qua đó giúp họ yên tâm, nỗ lực hơn trong thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất hiện nay vẫn là bài toán kinh phí, nhất là đối với các cơ sở đang thực hiện tự chủ mức 1 và mức 2.

146.jpg
Sinh viên Trường Cao đẳng Tiền Giang trong giờ học. Ảnh: Website Nhà trường.

Ngoài ra, việc tạo được sự đồng thuận trong đội ngũ nhà giáo cũng không hề đơn giản, bởi mức độ nặng nhọc, độc hại còn phụ thuộc vào vị trí đặt xưởng và mức đầu tư trang thiết bị cho xưởng, phòng thực hành. Thực tế cho thấy, dù cùng giảng dạy một nội dung, cùng đối tượng người học, nhưng mức độ độc hại có thể khác nhau giữa xưởng đạt chuẩn và xưởng tiền chế, tạm bợ.

Từ những vướng mắc trên, Thạc sĩ Nguyễn Quang Khải cho rằng, để chính sách phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có thể được triển khai thuận lợi và đi vào thực tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần quy định rõ ràng các tiêu chuẩn, mức độ nặng nhọc, độc hại để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp dễ áp dụng, tránh phải thuê các đơn vị chuyên môn đo đạc, kết luận.

Đồng thời, trong bối cảnh tự chủ hiện nay, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ kinh phí phù hợp. Thực tế cho thấy, khi thực hiện tự chủ mức 1 và mức 2, ngân sách nhà nước không còn hỗ trợ chi thường xuyên, nhiều cơ sở buộc phải ưu tiên tìm nguồn thu để duy trì hoạt động hơn là đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo nghề, dẫn tới những hệ quả không mong muốn. Vì vậy, Nhà nước cần xem xét hỗ trợ kinh phí cho việc đo đạc, đánh giá và chi trả phụ cấp nặng nhọc, độc hại cho nhà giáo, tách khỏi phần kinh phí mà các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải tự chủ.

Trong khi đó, đối chiếu với Nghị định số 1311/VBHN-BLĐTBXH, theo Thạc sỹ Trần Phương, dự thảo nghị định mới cơ bản kế thừa các quy định hiện hành. Theo đó, đối tượng hưởng phụ cấp vẫn là nhà giáo dạy thực hành, bao gồm cả dạy tích hợp lý thuyết – thực hành, tại xưởng thực hành, phòng thực hành của cơ sở giáo dục nghề nghiệp hoặc khi tham gia giảng dạy thực hành tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất. Điều kiện tiên quyết để được hưởng phụ cấp là hoạt động giảng dạy phải thuộc ngành, nghề có yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, với yêu cầu tối thiểu có ít nhất một trong các yếu tố được quy định.

Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế – xã hội hiện nay đã có nhiều thay đổi, từ mức sống của đội ngũ nhà giáo đến điều kiện lao động thực tế trong môi trường đào tạo nghề. Vì vậy, việc điều chỉnh tăng mức phụ cấp, đồng thời hoàn thiện các quy định về điều kiện hưởng theo hướng phù hợp hơn với thực tiễn được cho là cần thiết. Đây không chỉ là cơ sở để chính sách phụ cấp phản ánh đúng tính chất đặc thù của công việc giảng dạy nghề, mà còn góp phần tạo động lực, giữ chân đội ngũ giáo viên và nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong giai đoạn tới.

Tường San