Chuẩn đầu vào ngành Sư phạm cao tạo tác động kép cho đào tạo giáo viên

13/02/2026 06:25
Trần Trang

GDVN -Chuẩn đầu vào cao là một cú hích mạnh mẽ, tạo ra tác động kép tích cực đến cả quy trình đào tạo lẫn chất lượng đầu ra của sinh viên Sư phạm.

Năm 2026, Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực với nhiều quy định mang tính đột phá, nhà giáo được xếp lương cao nhất trong hệ thống thang bảng lương hành chính, sự nghiệp, kèm theo các chế độ đãi ngộ phù hợp. Đây được xem là điều kiện thuận lợi để các cơ sở đào tạo Sư phạm thu hút thêm nhiều thí sinh có năng lực và tâm huyết với nghề. Cùng với đó, điểm chuẩn đầu vào các ngành Sư phạm duy trì ở mức cao, cho thấy sức hút ngày càng rõ nét của khối ngành này.

Giáo viên trẻ có thêm nhiều động lực phấn đấu

Trao đổi cùng phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Trần Đức Mạnh - Trưởng phòng, Phòng đào tạo, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) bày tỏ niềm vui khi Luật Nhà giáo có hiệu lực, đem đến nhiều đãi ngộ cho giáo viên.

“Có thể khẳng định rằng, việc Quốc hội thông qua Luật Nhà giáo, trong đó xác lập nguyên tắc nhà giáo được xếp lương cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp, kèm theo phụ cấp ưu đãi nghề và các khoản phụ cấp theo tính chất công việc, vùng miền, là một bước tiến rất quan trọng, mang ý nghĩa cả chính sách, xã hội và chiến lược phát triển nguồn nhân lực giáo dục.

Thứ nhất, về tác động đối với đội ngũ nhà giáo nói chung, chính sách này góp phần khẳng định vị thế, vai trò đặc thù của nghề dạy học trong hệ thống nghề nghiệp công vụ. Khi thu nhập được cải thiện và tương xứng hơn với yêu cầu, áp lực và trách nhiệm nghề nghiệp, nhà giáo sẽ có điều kiện yên tâm công tác, toàn tâm cho chuyên môn, giảm bớt áp lực mưu sinh, từ đó nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục. Đây cũng là thông điệp mạnh mẽ thể hiện sự trân trọng của Nhà nước và xã hội đối với đội ngũ làm công tác giáo dục.

Thứ hai, đối với giáo viên trẻ mới ra trường, tác động là rất rõ nét. Trong nhiều năm qua, mức lương khởi điểm thấp và chênh lệch thu nhập so với các ngành nghề khác là một trong những nguyên nhân khiến sinh viên giỏi chưa mặn mà với ngành Sư phạm, hoặc giáo viên trẻ rời bỏ nghề sau thời gian ngắn công tác. Việc nâng mặt bằng thu nhập, đặc biệt là lương khởi điểm và phụ cấp ưu đãi nghề, sẽ giúp giáo viên trẻ ổn định cuộc sống ban đầu, giảm áp lực kinh tế, từ đó có thêm động lực gắn bó lâu dài với nghề.

Thứ ba, các khoản phụ cấp theo tính chất công việc và vùng miền có ý nghĩa điều tiết và công bằng xã hội rất lớn. Chính sách này không chỉ hỗ trợ thiết thực cho giáo viên công tác ở vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa mà còn góp phần thu hút, giữ chân giáo viên trẻ, khắc phục tình trạng thiếu hụt giáo viên cục bộ, đặc biệt ở các địa bàn còn nhiều thách thức” – thầy Mạnh bày tỏ.

image-24.jpg
Tiến sĩ Trần Đức Mạnh - Trưởng phòng, Phòng đào tạo, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng). Ảnh: NVCC.

Cùng bàn luận về chủ đề này, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chí Thành - Trưởng khoa, Khoa Sư phạm, Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho hay, chính sách của Nhà nước và các trường đại học đã tạo động lực mạnh mẽ, giúp sinh viên sư phạm yên tâm lựa chọn, gắn bó với ngành.

Các chính sách như miễn học phí, hỗ trợ sinh hoạt phí, cam kết việc làm sau tốt nghiệp, cùng với lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng đã loại bỏ những lo lắng về tương lai nghề nghiệp của các em và gia đình. Đặc biệt, sinh viên sư phạm ra trường có nhiều chế độ ưu tiên khi về làm việc tại vùng sâu, vùng xa như hỗ trợ nhà ở, phụ cấp đặc biệt, cơ hội thăng tiến nhanh hơn, tạo điều kiện cho các em có cơ hội cống hiến và phát triển sự nghiệp.

Quan trọng hơn, Luật Nhà giáo mới ra đời đã xác định bảng lương của giáo viên nằm ở mức cao nhất trong thang bậc hành chính, điều này thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ nhà giáo, đồng thời tạo sự ổn định về kinh tế cho những người làm trong ngành.

Vị thế của nghề giáo ngày càng được xã hội khẳng định. Trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, vai trò của người thầy trở nên then chốt trong việc hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao. Xã hội đã nhận ra rằng, không có nguồn nhân lực giáo dục chất lượng cao thì không thể có nền giáo dục tiên tiến. Điều này đã nâng cao vị thế xã hội của nghề giáo, khiến các em thí sinh cảm thấy tự hào khi lựa chọn con đường này.

image-32.jpg
Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chí Thành - Trưởng khoa, Khoa Sư phạm, Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: NVCC.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng - Trưởng khoa, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cho rằng, nếu như giai đoạn trước, chúng ta từng nghe những định kiến chua xót như “chuột chạy cùng sào mới vào Sư phạm”, thì nay thực tế đã đảo chiều hoàn toàn. Ngành Sư phạm hiện nay đã trở thành nơi quy tụ những học sinh ưu tú, có năng lực thực sự.

Động lực lớn nhất thúc đẩy sự thay đổi này chính là hiệu quả từ các chính sách vĩ mô của Nhà nước, điển hình là Nghị định 116/2020/NĐ-CP quy định về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên Sư phạm, cùng với lộ trình cải cách tiền lương.

Những chính sách này đã giải quyết được nỗi lo cơm áo gạo tiền, giúp Sư phạm trở thành một lựa chọn an toàn và kinh tế cho nhiều gia đình. Bên cạnh đó, sau những biến động của xã hội và kinh tế, người dân ngày càng trân trọng giá trị của sự ổn định bền vững mà nghề dạy học mang lại.

Hơn nữa, nhận thức về cơ hội nghề nghiệp cũng đã cởi mở hơn rất nhiều. Phụ huynh và học sinh hiện nay hiểu rằng cánh cửa của sinh viên Sư phạm không còn bó hẹp trong biên chế nhà nước, mà đã mở rộng sang hệ thống các trường tư, trường quốc tế và các tổ chức giáo dục đa dạng.

image-25.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng - Trưởng khoa, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Ảnh: NVCC.

Nâng cao chất lượng đầu ra nhờ đội ngũ sinh viên tài năng

Những năm gần đây, điểm chuẩn xét tuyển đại học ngành Sư phạm luôn ở mức cao. Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chí Thành cho hay, chất lượng đầu vào tốt chính là nền móng để xây dựng đội ngũ giáo viên tương lai chất lượng cao. Khi thí sinh có năng lực học tập tốt, tư duy logic và đam mê nghề, quá trình đào tạo sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Các em không chỉ tiếp thu tri thức sư phạm một cách thụ động mà còn có khả năng sáng tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy, thích ứng nhanh với chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

“Từ kinh nghiệm thực tế, tôi nhận thấy sinh viên có điểm đầu vào cao thường có những ưu điểm vượt trội. Về mặt học tập, các em có nền tảng kiến thức vững chắc, khả năng tư duy phản biện tốt, dễ dàng tiếp cận những lý thuyết giáo dục hiện đại và các phương pháp sư phạm tiên tiến. Điều này giúp rút ngắn thời gian đào tạo và nâng cao chất lượng đầu ra.

Về khả năng thích ứng, thế hệ sinh viên này lớn lên trong thời đại công nghệ số, có tư duy mở, sẵn sàng tiếp nhận những phương pháp giảng dạy mới như học tập trực tuyến, sử dụng AI trong giáo dục, hay các công cụ giáo dục số hiện đại.

Đối với nhà trường, việc tuyển chọn được sinh viên giỏi cho phép chúng tôi đào tạo những thầy cô giáo không chỉ giỏi chuyên môn, vững nghiệp vụ mà còn có kỹ năng nghiên cứu, khả năng ứng dụng công nghệ và tinh thần đổi mới sáng tạo. Chúng tôi có thể áp dụng những phương pháp đào tạo tiên tiến, thúc đẩy nghiên cứu khoa học ngay từ bậc đại học, tạo điều kiện cho sinh viên tham gia các dự án quốc tế.

Đây chính là nhân tố quyết định để thế hệ giáo viên mới góp phần nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông trong thời gian tới. Khi những giáo viên trẻ này bước vào nghề, họ sẽ là những người dẫn dắt sự thay đổi, mang đến những phương pháp giảng dạy hiện đại, giúp học sinh phát triển toàn diện và có khả năng cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Tôi tin rằng, với chất lượng đầu vào ngày càng tốt như hiện nay, chúng ta hoàn toàn có lý do để lạc quan về một thế hệ giáo viên tương lai - những người sẽ trở thành xương sống của nền giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên mới” – thầy Thành bày tỏ.

Còn Tiến sĩ Trần Đức Mạnh khẳng định, việc điểm chuẩn các ngành Sư phạm duy trì ở mức cao trong nhiều năm là một tín hiệu rất tích cực và có tác động sâu rộng đến chất lượng đào tạo chung của nhà trường, cả trước mắt lẫn lâu dài.

Đầu tiên, chuẩn đầu vào tốt tạo nền tảng quyết định cho chất lượng đào tạo. Sinh viên Sư phạm có năng lực học tập tốt, tư duy logic và động cơ nghề nghiệp rõ ràng sẽ tiếp thu kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và phương pháp dạy học một cách hiệu quả hơn. Điều này giúp nhà trường nâng cao mặt bằng học thuật của các lớp học, tạo điều kiện thuận lợi để triển khai các phương pháp dạy học tích cực, dạy học phát triển năng lực và ứng dụng công nghệ, thay vì chỉ dừng ở mức truyền thụ kiến thức.

Chuẩn đầu vào cao cũng góp phần hình thành môi trường học tập cạnh tranh lành mạnh và có tính lan tỏa. Khi sinh viên có học lực và ý thức học tập tốt, văn hóa học thuật trong nhà trường được nâng lên rõ rệt: sinh viên chủ động học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt động chuyên môn, câu lạc bộ học thuật. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo của từng ngành mà còn tác động tích cực đến chất lượng đào tạo chung của toàn trường.

Bên cạnh đó, đầu vào tốt giúp nhà trường chủ động hơn trong đổi mới chương trình và phương thức đào tạo. Với nền tảng người học tốt, các cơ sở đào tạo Sư phạm có thể mạnh dạn thiết kế chương trình theo hướng tinh gọn, hiện đại, tăng cường học phần thực hành – trải nghiệm, nghiên cứu khoa học giáo dục, phát triển năng lực nghề nghiệp và phẩm chất nhà giáo. Qua đó, chất lượng đầu ra được nâng cao, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông mới và yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

Tuy nhiên, thầy Mạnh đánh giá, cần nhìn nhận rằng chuẩn đầu vào cao chỉ là điều kiện cần. Để chuyển hóa thành chất lượng đào tạo thực chất, nhà trường phải đồng thời bảo đảm chất lượng đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, môi trường sư phạm và công tác hỗ trợ sinh viên. Khi các yếu tố này được vận hành đồng bộ, chuẩn đầu vào tốt sẽ trở thành “đòn bẩy” quan trọng giúp các trường Sư phạm nâng cao uy tín, khẳng định vị thế và sứ mệnh đào tạo đội ngũ nhà giáo chất lượng cao cho xã hội.

sv-di-thuc-tap.jpg
Sinh viên Sư phạm đi thực tập tại trường phổ thông. Ảnh: NVCC.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng, điểm chuẩn ngành Sư phạm liên tục giữ mức cao, thậm chí dẫn đầu trong các năm tuyển sinh gần đây, là một tín hiệu đáng mừng. Xu hướng này phản ánh vị thế của nghề dạy học ngày càng được đề cao trong xã hội.

“Việc mặt bằng chuẩn đầu vào được nâng cao rõ rệt trong những năm qua có thể nói là một cú hích mạnh mẽ, tạo ra tác động kép tích cực đến cả quá trình đào tạo lẫn chất lượng đầu ra của sinh viên.

Trước hết, đối với quá trình đào tạo, chất lượng đầu vào tốt tạo ra một môi trường học thuật sôi nổi và đòi hỏi cao hơn. Sinh viên hiện nay không chỉ có nền tảng kiến thức tốt mà tư duy rất sắc sảo, năng động và có tinh thần phản biện cao. Điều này tạo ra một “áp lực tích cực” lên chính đội ngũ giảng viên.

Chúng tôi không thể duy trì lối dạy truyền thống một chiều, mà buộc phải liên tục đổi mới phương pháp, chuyển mạnh sang hướng dẫn nghiên cứu và phát triển năng lực tư duy. Những giờ giảng tại Khoa Lịch sử giờ đây trở thành những buổi đối thoại cởi mở, nơi thầy và trò cùng đào sâu vấn đề, giúp chất lượng đào tạo đi vào chiều sâu thực chất. Đồng thời chúng tôi luôn phải tích ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học ở tất cả các học phần.

Về phía đầu ra, sự sàng lọc kỹ lưỡng từ đầu vào là tiền đề quan trọng để chúng tôi cung cấp cho xã hội những lứa cử nhân sư phạm “tinh nhuệ”. Sinh viên tốt nghiệp hiện nay không chỉ vững vàng về kiến thức chuyên môn Lịch sử, mà còn có bản lĩnh nghề nghiệp và khả năng thích ứng rất nhanh với những đổi mới của Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Các em tự tin hơn trong việc ứng dụng công nghệ, chủ động trong phương pháp dạy học và sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu khắt khe của các cơ sở giáo dục uy tín ngay khi rời ghế nhà trường. Có thể khẳng định, đầu vào tốt chính là bệ phóng vững chắc để chúng tôi nâng tầm chất lượng nguồn nhân lực giáo dục trong bối cảnh mới” – thầy Dũng chia sẻ.

Sinh viên được “nhúng mình” vào môi trường thực tế sớm

Thầy Dũng cho hay, Khoa Lịch sử của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 xác định rằng để sinh viên ra trường có thể “đứng vững” và “tỏa sáng” ngay trên bục giảng, khoảng cách giữa giảng đường đại học và trường phổ thông phải được xóa bỏ hoàn toàn. Chính vì vậy, hoạt động thực hành, thực tập của Khoa hiện nay không còn dồn vào năm cuối như tư duy cũ, mà được thiết kế theo lộ trình xuyên suốt, kiến tập từ năm thứ hai, thực tập vào năm thứ ba và năm thứ tư.

“Chúng tôi đã chủ động xây dựng mạng lưới kết nối chặt chẽ với hệ thống các trường phổ thông, bao gồm cả trường công lập, tư thục và quốc tế. Sinh viên được “nhúng mình” vào môi trường sư phạm thực tế rất sớm thông qua các đợt kiến tập và rèn luyện nghiệp vụ thường xuyên. Các em không chỉ học cách soạn giáo án hay giảng bài, mà còn được trực tiếp tham gia vào công tác chủ nhiệm, tổ chức hoạt động trải nghiệm và xử lý các tình huống giáo dục cụ thể. Điều này giúp các em hình thành bản lĩnh nghề nghiệp một cách tự nhiên và bền vững.

Đặc biệt, để bắt kịp Chương trình giáo dục phổ thông 2018, Khoa chú trọng tối đa vào việc rèn luyện kỹ năng dạy học tích hợp và ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy Lịch sử. Chúng tôi thường xuyên tổ chức các hội thi nghiệp vụ sư phạm, các mô hình lớp học giả định để sinh viên cọ xát liên tục. Nhờ chiến lược đào tạo gắn liền với thực tiễn này, sinh viên của Khoa Lịch sử khi tốt nghiệp không còn bỡ ngỡ, mà hoàn toàn tự tin bắt nhịp ngay lập tức với yêu cầu công việc tại bất kỳ môi trường giáo dục nào” – thầy bày tỏ.

z7488471214903-bdc1c3159b6fd1b462d8ed808e9477a4.jpg
Sinh viên Khoa Lịch sử trong phần thi giảng, Hội thi Nghiệp vụ Sư phạm năm học 2025 - 2026. Ảnh: NVCC.

Nhận thức rõ yêu cầu gắn đào tạo với thực tiễn nghề nghiệp, trong những năm gần đây, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) đã và đang triển khai đồng bộ nhiều hoạt động thực hành - thực tập theo hướng tăng cường trải nghiệm, rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và môi trường làm việc thực tế, qua đó giúp sinh viên sư phạm nhanh chóng thích ứng với nghề và nâng cao khả năng có việc làm sau khi tốt nghiệp.

Thầy Mạnh cho biết, hoạt động thực hành nghề nghiệp được đổi mới ngay trong quá trình đào tạo, trong đó các học phần nghiệp vụ sư phạm và phương pháp dạy học bộ môn được thiết kế theo hướng tăng thời lượng thực hành, mô phỏng tình huống sư phạm, dạy học vi mô, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong thiết kế bài giảng, kiểm tra - đánh giá. Sinh viên không chỉ được trang bị kiến thức về “cách dạy” mà còn được rèn luyện kỹ năng quản lý lớp học, xử lý tình huống sư phạm, giao tiếp nghề nghiệp và đạo đức nhà giáo ngay từ những năm đầu học tập.

Công tác thực tập sư phạm được tổ chức theo lộ trình kế thừa, gắn chặt với chuẩn nghề nghiệp giáo viên. Các cơ sở đào tạo triển khai mô hình thực tập nhiều đợt, với mức độ tham gia của sinh viên tăng dần, từ kiến tập, trợ giảng, hỗ trợ hoạt động giáo dục đến thực tập giảng dạy độc lập. Quá trình này được thực hiện trên cơ sở phối hợp chặt chẽ với các trường phổ thông đối tác, có sự hướng dẫn và đánh giá thường xuyên của giảng viên sư phạm và giáo viên phổ thông.

Song song với đó, mạng lưới liên kết với các cơ sở sử dụng lao động tiếp tục được mở rộng thông qua việc tăng cường hợp tác với các sở giáo dục và đào tạo, trường mầm non, phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên và các cơ sở giáo dục ngoài công lập. Nhờ đó, sinh viên có thêm cơ hội tham gia thực tập, trải nghiệm nghề nghiệp thực tế, đồng thời được giới thiệu việc làm và tuyển dụng ngay sau khi tốt nghiệp, đặc biệt là những trường hợp thể hiện tốt năng lực nghề nghiệp trong quá trình thực tập.

Bên cạnh việc tăng cường thực hành và thực tập, các cơ sở đào tạo cũng chú trọng hỗ trợ sinh viên phát triển năng lực nghề nghiệp và kỹ năng mềm thông qua các lớp bồi dưỡng chuyên môn, hội thảo chuyên đề, tọa đàm với nhà quản lý giáo dục và giáo viên giỏi. Những hoạt động này giúp sinh viên hiểu rõ hơn yêu cầu thực tiễn của nghề dạy học, đồng thời chuẩn bị tâm thế và năng lực thích ứng với môi trường làm việc ngày càng đa dạng.

Trần Trang