Cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu phải trở thành "đầu mối" kết nối trí thức Việt toàn cầu

22/02/2026 06:25
Thi Thi

GDVN - Để trở thành trung tâm kết nối trí thức Việt toàn cầu, các viện nghiên cứu, trường ĐH trong nước cần chủ động kiến tạo mạng lưới.

Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị đã xác định rõ: "Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới... Chú trọng bảo đảm nguồn nhân lực trình độ cao cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; có cơ chế, chính sách đặc biệt về nhân tài".

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Trịnh Đôn, hiện công tác tại Đại học British Columbia (thành phố Kelowna, Canada) cho rằng, các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài hoàn toàn có thể tham gia, kết nối và đóng góp cho sự phát triển khoa học công nghệ của đất nước với nhiều hình thức đa dạng, ngay cả khi không làm việc toàn thời gian trong nước.

Theo Tiến sĩ Đôn, hợp tác nghiên cứu là phương thức phổ biến nhất. Thông qua các hội nghị khoa học, diễn đàn chuyên môn, những buổi gặp gỡ học thuật hoặc từ chính các mối quan hệ cá nhân, các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài có thể thiết lập, duy trì và mở rộng kết nối với các đối tác trong nước.

Trên thực tế, không chỉ Việt Nam mà bất kỳ nền khoa học công nghệ nào cũng đều có nhu cầu hợp tác quốc tế. Tiến sĩ Đôn dẫn chứng, tại Canada, các cơ quan tài trợ khoa học công nghệ cấp quốc gia đều triển khai những chương trình liên kết khoa học quốc tế (gọi chung là "Alliance International"). Điểm cốt lõi của các mô hình này nằm ở tinh thần "hợp tác" hai chiều cùng có lợi, tức là các bên bổ trợ cho nhau thay vì chỉ là sự hỗ trợ đơn phương.

Bên cạnh đó, hợp tác trong đào tạo là một hướng đóng góp rất quan trọng, dù đòi hỏi sự đầu tư lớn hơn về thời gian, công sức cũng như nguồn lực tài chính. Các chương trình đào tạo, từ bậc đại học đến sau đại học, thường kéo dài nhiều năm và đối với người học thì đây cũng là một sự đầu tư đáng kể.

Đối với các cơ sở đào tạo trong nước và đối tác quốc tế, việc xây dựng chương trình chung, đối chiếu và bổ sung học phần cho tương thích, cũng như bố trí kinh phí học bổng, đều đặt ra những thách thức không nhỏ. Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Nguyễn Trịnh Đôn, vẫn có những hình thức linh hoạt và ít tốn kém hơn, như tham gia giảng dạy với tư cách giảng viên thỉnh giảng hay đồng hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học.

1-ntd-2026.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Trịnh Đôn, hiện công tác tại Đại học British Columbia (thành phố Kelowna, Canada). Ảnh: NVCC.

Ngoài ra, nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài còn có thể đóng vai trò cầu nối, thúc đẩy các chương trình trao đổi và học bổng quốc tế. Có thể kể đến Chương trình Học bổng và trao đổi giáo dục vì mục tiêu phát triển (SEED) của Chính phủ Canada dành cho các nước Đông Nam Á, hay chương trình Thực tập sinh nghiên cứu Globalink của Mitacs - cơ quan cấp kinh phí hợp tác nghiên cứu của Canada. Đây là những cơ hội mà các viện, trường tại Việt Nam có thể chủ động khai thác nhằm đưa sinh viên đến các cơ sở nghiên cứu, đào tạo phù hợp với nhu cầu hợp tác.

Một hình thức đóng góp đang ngày càng trở nên phổ biến là hoạt động tư vấn. Thông qua các kênh chính thức hoặc mạng lưới chuyên môn, các cơ quan, đơn vị trong nước có thể tham vấn ý kiến của các chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài về những vấn đề cụ thể trong lĩnh vực khoa học công nghệ, về định hướng chiến lược phát triển, hoặc đơn giản là tìm kiếm, giới thiệu các chuyên gia có chuyên môn phù hợp với nhu cầu thực tiễn.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Trịnh Đôn, chính sự đa dạng và linh hoạt trong các hình thức tham gia này sẽ góp phần quan trọng vào việc kết nối và phát huy hiệu quả nguồn lực trí thức Việt Nam trên toàn cầu.

Canada "kêu gọi" cộng đồng trí thức ở nước ngoài đóng góp cho khoa học công nghệ ra sao?

Trước câu hỏi về mô hình kết nối trí thức kiều bào với quốc gia gốc tại Canada và những gợi mở cho Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Trịnh Đôn cho rằng cần nhìn nhận vấn đề trong bối cảnh đặc thù về lịch sử, kinh tế và văn hóa của từng quốc gia.

Theo Tiến sĩ, cách tiếp cận của Canada đối với cộng đồng trí thức ở nước ngoài có phần khác với Việt Nam. Do mối quan hệ kinh tế, lịch sử và ngôn ngữ hết sức gần gũi giữa Canada với Anh, Pháp, Hoa Kỳ và các quốc gia thuộc Khối Thịnh vượng chung như Australia, New Zealand…, việc người Canada làm việc, sinh sống và “đi đi về về” giữa các quốc gia này là điều khá phổ biến. Ở chiều ngược lại, Canada cũng là điểm đến của đông đảo chuyên gia, nhà khoa học từ nhiều nước trên thế giới.

Thực tế cho thấy, yếu tố quốc tịch hay nguồn gốc không phải là tiêu chí hàng đầu trong chính sách thu hút và kết nối nhân tài của Canada. Chẳng hạn, Thủ tướng đương nhiệm Mark Carney từng giữ cương vị Thống đốc Ngân hàng trung ương Anh. Tại Đại học British Columbia (UBC), cố giáo sư Michael Smith - chủ nhân Giải Nobel Hóa học năm 1993 - sinh ra và lớn lên tại Anh. Trong số 17 hiệu trưởng của UBC qua các thời kỳ, có tới 5 người sinh ra và lớn lên bên ngoài Canada. Điều đó phản ánh tính quốc tế sâu rộng trong hệ thống học thuật và quản trị của quốc gia này.

Vì vậy, theo Tiến sĩ Đôn, nhu cầu xây dựng mô hình kết nối tại Canada chủ yếu nhằm nâng cao quan hệ hợp tác với những lĩnh vực, đối tác hoặc khu vực địa lý mà quốc gia này có nhu cầu chiến lược, thay vì đặt trọng tâm vào việc ưu tiên riêng người Canada ở nước ngoài. Mới đây, Chính phủ Canada công bố kế hoạch đầu tư 1,7 tỷ CAD trong hơn một thập kỷ tới để thu hút nhân tài toàn cầu phục vụ nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ. Trong chương trình này, người Canada ở nước ngoài có được nhắc tới, song không phải là nhóm duy nhất hay đối tượng ưu tiên hàng đầu.

2a-ntd-lecturing-1.jpg
"Sinh viên Đại học British Columbia đến từ hơn 160 nước trên thế giới. Mức độ quốc tế hóa cao trong khoa học - giáo dục là những sợi dây duy trì và phát triển quan hệ hợp tác, làm giàu cho tri thức trong tương lai". Ảnh: NVCC.

Ở chiều ngược lại, nhiều quốc gia khác lại chủ động xây dựng mạng lưới kết nối với cộng đồng trí thức kiều dân của họ tại Canada theo những mô hình khá đa dạng. Đại sứ quán Việt Nam tại Canada cũng có những liên hệ kết nối, nắm thông tin về kiều bào đang công tác tại các trường đại học, viện nghiên cứu để khuyến khích hợp tác với các cơ sở trong nước.

Một mô hình đáng chú ý là Hiệp hội các nhà khoa học và kỹ sư người Canada gốc Hàn Quốc (AKCSE). Tổ chức này đóng vai trò cầu nối giữa trí thức gốc Hàn tại Canada, vừa hỗ trợ phát triển sự nghiệp của các thành viên ở nước sở tại, vừa thúc đẩy quan hệ hợp tác Canada - Hàn Quốc. AKCSE có website, tổ chức hội nghị thường niên, cấp học bổng, triển khai chương trình dành cho thế hệ trẻ, tài trợ nghiên cứu và cung cấp dịch vụ tư vấn. Theo Tiến sĩ Nguyễn Trịnh Đôn, nhiều giáo sư gốc Hàn tham gia mạng lưới này rất tích cực, qua đó hình thành các dự án hợp tác cụ thể với Hàn Quốc.

Theo kinh nghiệm công tác của Tiến sĩ Đôn, một trường hợp khác là nước Đức. Tương tự Canada, Đức không thiết kế các chương trình riêng biệt chỉ dành cho trí thức gốc Đức ở nước ngoài. Tuy nhiên, các tổ chức như Quỹ Alexander von Humboldt hay Quỹ Nghiên cứu Đức (DFG - cơ quan cấp kinh phí nghiên cứu quốc gia) thường xuyên duy trì các hoạt động kết nối với những nhà khoa học từng nhận học bổng hoặc kinh phí nghiên cứu từ Đức. Thông qua đó, Đức xây dựng được mạng lưới hợp tác học thuật và cả “mạng lưới ảnh hưởng” rộng khắp, không chỉ tại Canada mà trên toàn cầu. Thực tế cũng cho thấy là những nhà khoa học Đức ở nước ngoài sẽ có xu hướng quay về làm việc tại Đức nhiều hơn nếu họ duy trì hợp tác khoa học với các viện, trường ở Đức.

Từ những kinh nghiệm này, có thể rút ra một số gợi mở cho Việt Nam. Thay vì chỉ tiếp cận theo hướng kêu gọi "hồi hương" hay nhấn mạnh yếu tố nguồn gốc, việc xây dựng các mạng lưới học thuật dựa trên lợi ích hợp tác thực chất, tạo nền tảng hai chiều cùng có lợi, duy trì kết nối dài hạn thông qua các chương trình học bổng, tài trợ nghiên cứu và diễn đàn chuyên môn có thể là hướng đi bền vững hơn. Quan trọng hơn cả là tạo dựng môi trường học thuật đủ hấp dẫn và minh bạch để mọi trí thức, dù ở trong hay ngoài nước, đều nhìn thấy cơ hội đóng góp và phát triển.

Những "điểm nghẽn" cần khơi thông

Nhìn nhận "điểm nghẽn" lớn nhất khiến nhiều nhà khoa học Việt ở nước ngoài còn chưa thể đóng góp hiệu quả cho trong nước, Tiến sĩ Nguyễn Trịnh Đôn cho rằng có hai trở ngại chủ yếu là cơ chế và quỹ thời gian.

Theo Tiến sĩ Đôn, "cơ chế" là khái niệm bao hàm nhiều yếu tố, từ quy trình bổ nhiệm, điều kiện làm việc, môi trường học thuật, khả năng duy trì kết nối với khoa học công nghệ thế giới, cho đến chính sách đãi ngộ, lương thưởng. Đây là những điều kiện nền tảng quyết định một nhà khoa học có thể yên tâm làm việc lâu dài và phát huy tối đa năng lực chuyên môn hay không.

3-ntd-naturalproductssymposium.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Trịnh Đôn tham gia hội thảo về các hợp chất thiên nhiên tại Đại học British Columbia ở Kelowna, Canada năm 2025 thu hút nhiều nhà khoa học từ Canada, Nhật Bản, và Mỹ. Theo Tiến sĩ, những hội thảo có quy mô vừa phải và tập trung có thể giúp tạo động lực phát triển những lĩnh vực then chốt. Ảnh: NVCC.

"Gần đây, Đại học Hồng Kông thu hút được hai trí thức gốc Việt là Giáo sư Ngô Bảo Châu và Giáo sư Vũ Hà Văn về làm việc. Đây là trường hợp đáng tham khảo về cách thiết kế cơ chế tuyển dụng và trọng dụng nhân lực chất lượng cao trong môi trường cạnh tranh quốc tế. Ở trong nước, những chương trình thu hút nhân tài như VNU 350 của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những ví dụ đáng khích lệ và rất có thể trở thành mô hình tham khảo để các cơ sở giáo dục nghiên cứu khác xây dựng chính sách phù hợp với điều kiện của mình.

Một ví dụ nữa về gợi mở cơ chế cũng từ Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là việc đưa tiến sĩ ra doanh nghiệp. Tại Canada cũng tồn tại những cơ chế tương tự nhằm tạo điều kiện cho giới nghiên cứu, đặc biệt là các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ, làm việc trực tiếp trong các công ty liên quan đến khoa học công nghệ. Tất nhiên, không phải mọi nhà khoa học đều mong muốn chuyển sang khu vực doanh nghiệp, tuy nhiên cách làm này cho thấy sự đa dạng và linh hoạt trong tổ chức hệ sinh thái khoa học công nghệ, từ đó góp phần thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao", Tiến sĩ Đôn chia sẻ.

Bên cạnh cơ chế, yếu tố quỹ thời gian cũng là rào cản đáng kể, đặc biệt với những người chưa hoặc không có điều kiện về nước làm việc toàn thời gian. Theo Tiến sĩ Nguyễn Trịnh Đôn, để khai thác hiệu quả nguồn lực "bán thời gian" này, cần nhìn nhận vấn đề cốt lõi là xây dựng kết nối tin cậy ngoài việc hoàn thiện cơ chế linh hoạt.

Trong điều kiện thời gian hạn hẹp, các nhà khoa học có xu hướng lựa chọn những nơi họ tin tưởng có thể tạo ra tác động tích cực. Những mối quan hệ được xây dựng trên nền tảng tin cậy sẽ giúp họ xác định được đơn vị phù hợp để hợp tác. Đồng thời, các cơ chế như thỉnh giảng, hợp tác nghiên cứu, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh… sẽ tạo điều kiện để họ phát huy chuyên môn dù chỉ có thể dành một phần thời gian. Đây không chỉ là nhu cầu của trí thức Việt ở nước ngoài, mà còn là nguyên tắc chung trong hợp tác khoa học quốc tế.

Viện, trường đại học ở Việt Nam nên chủ động kiến tạo mạng lưới thay vì chờ đợi nhân tài hồi hương

Theo Tiến sĩ Nguyễn Trịnh Đôn, để trở thành đầu mối kết nối trí thức Việt toàn cầu một cách chủ động và hiệu quả, các trường đại học, viện nghiên cứu trong nước không thể chỉ chờ đợi sự "tự tìm đường" của từng cá nhân, mà cần thiết kế chiến lược quan hệ dựa trên nhu cầu phát triển cụ thể của chính đơn vị mình trong tổng thể hệ sinh thái khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.

Tiến sĩ Đôn lý giải, các mối quan hệ hợp tác phải được xây dựng trên nền tảng thực chất, gắn với những vấn đề, lĩnh vực mà đơn vị có thế mạnh hoặc đang cần phát triển. Khi trở thành “địa chỉ tin cậy” trong từng chuyên ngành, các viện, trường sẽ tự nhiên thu hút được đối tác quốc tế tìm đến, trong đó có cộng đồng trí thức Việt Nam ở nước ngoài - những người vốn đã có sẵn sợi dây liên hệ với quê hương và mong muốn đóng góp.

Về mặt chức năng, vai trò của các viện, trường khoa học công nghệ ở Việt Nam đã được xác định rõ, đó là vị trí trung tâm trong đào tạo nhân lực chất lượng cao cũng như hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Từ vị thế này, các cơ sở có thể chủ động triển khai các chương trình kết nối theo ba hướng chính: Hợp tác nghiên cứu, hợp tác đào tạo và tư vấn. Ba cách này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và đều dựa trên nền tảng cốt lõi là xây dựng được mối quan hệ lâu dài, tin cậy với đối tác.

Ở góc độ thực tiễn, Tiến sĩ Nguyễn Trịnh Đôn gợi ý: "Các viện, trường có thể đầu tư hoặc liên kết tổ chức những sự kiện khoa học công nghệ có uy tín nhằm thu hút trí thức Việt toàn cầu. Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE) tại Quy Nhơn cũ (nay là phường Quy Nhơn Nam, tỉnh Gia Lai) là một ví dụ tiêu biểu khi thường xuyên đón tiếp các nhà khoa học có uy tín đến tham dự hội nghị và các hoạt động ngắn hạn. Các viện, trường trong nước có thể tăng cường liên kết với những đơn vị như ICISE thông qua đồng tổ chức sự kiện, hoặc lựa chọn, cử cán bộ, giảng viên phù hợp tham dự để mở rộng kết nối với đại biểu quốc tế.

Đối với những đơn vị có bề dày lịch sử như các đại học quốc gia, đại học vùng, việc xây dựng và phát huy mạng lưới cựu sinh viên là một hướng đi giàu tiềm năng. Nhiều trí thức Việt Nam đang công tác ở nước ngoài từng học tập tại các cơ sở trong nước. Từ mối liên hệ nền tảng này, các viện, trường có thể phát triển thành chuỗi hoạt động chuyên sâu hơn như tổ chức hội thảo, đề xuất cơ chế hợp tác cho những vấn đề cụ thể của đơn vị, thay vì dừng lại ở các buổi gặp gỡ, giao lưu hoặc báo cáo thành tựu khoa học mang tính khái quát".

Tiến sĩ Đôn nhấn mạnh, bên cạnh nỗ lực của từng cơ sở, vai trò điều phối của Nhà nước và các đơn vị đầu tàu như đại học quốc gia, viện hàn lâm cũng cần được phát huy mạnh mẽ. Ngoài các liên kết đơn lẻ - dù quan trọng nhưng Việt Nam cần hướng tới xác định và xây dựng các đối tác chiến lược theo từng lĩnh vực mũi nhọn.

Tiến sĩ dẫn ví dụ, Canada với các chương trình hợp tác song phương trong những lĩnh vực trọng điểm như hóa học bền vững với Đức hay trí tuệ nhân tạo trong bán dẫn với Đài Loan (Trung Quốc). Trong các chương trình này, nhà khoa học hai bên nhận được kinh phí hỗ trợ từ cả hai phía cho đề tài cùng tham gia.

"Nếu chúng ta xây dựng được những chương trình hợp tác chiến lược có cơ chế tài chính và điều phối rõ ràng như vậy, tôi tin rằng các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài sẽ tích cực tham gia hơn", Tiến sĩ Nguyễn Trịnh Đôn nhận định.

Để trở thành trung tâm kết nối trí thức Việt toàn cầu, các viện, trường trong nước cần chủ động kiến tạo mạng lưới; chuyển từ những cuộc gặp gỡ mang tính biểu tượng sang các chương trình hợp tác cụ thể, có mục tiêu, có nguồn lực và có cơ chế vận hành bền vững. Chỉ khi đó, dòng chảy tri thức mới thực sự được khơi thông và lan tỏa lâu dài.

Nhân dịp năm mới Bính Ngọ 2026, chia sẻ về những kỳ vọng dành cho khoa học công nghệ nước nhà, Tiến sĩ Nguyễn Trịnh Đôn bày tỏ: "Điều khiến tôi cảm thấy khích lệ là bầu không khí ngày càng cởi mở khi bàn về hợp tác quốc tế và thu hút nguồn lực tri thức toàn cầu. Cùng với đó là sự thể hiện rõ nét hơn về nguồn lực đầu tư, tầm nhìn phát triển và quyết tâm ở cấp quốc gia nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo khoa học - công nghệ như là một động lực căn bản cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Tôi hy vọng sẽ được chứng kiến những chuyển biến mạnh mẽ hơn để nền khoa học công nghệ Việt Nam có thể bắt nhịp nhanh hơn với thế giới trong thời gian tới. Riêng trong năm 2026, tôi mong muốn nhìn thấy nhiều mối quan hệ hợp tác mật thiết hơn giữa các viện, trường của Việt Nam với các đối tác quốc tế. Tôi cũng kỳ vọng Chính phủ sẽ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các khung cơ chế hợp tác khoa học bài bản, ổn định và có tính dài hạn với các quốc gia đối tác.

Tôi kỳ vọng bản thân mình có thêm những đóng góp cụ thể, thiết thực trong các hoạt động kết nối, hợp tác, qua đó cùng cộng đồng khoa học chung tay thúc đẩy sự phát triển của khoa học công nghệ Việt Nam trong giai đoạn mới".

Thi Thi