Những năm qua, công tác chuyển giao khoa học công nghệ vẫn là điểm nghẽn đối với các cơ sở giáo dục đại học. Nhiều sản phẩm tiềm năng vẫn “nằm trên giá giấy” do vướng mắc về cơ chế, tài chính và kết nối thị trường.

Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, cần có cơ chế chính sách linh hoạt về các vấn đề tài chính, sở hữu trí tuệ, cũng như khuyến khích doanh nghiệp sớm tham gia vào quá trình nghiên cứu để thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm khoa học – công nghệ.

Để được doanh nghiệp tiếp nhận, sản phẩm công nghệ và giải pháp cần đáp ứng nhiều điều kiện

Tại Đại học Bách khoa Hà Nội, theo báo cáo thường niên các năm từ 2021 đến 2024, nguồn thu từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của nhà trường có sự biến động, nhưng vẫn nằm trong mức cao nếu so với các cơ sở giáo dục đại học trên cả nước.

Năm 2021, Đại học Bách khoa Hà Nội thu 84.618 triệu đồng (84,618 tỷ đồng) từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Con số này năm 2022 là 78.968 triệu đồng (78,968 tỷ đồng). Năm 2023, nguồn thu này tăng lên 102,20 tỷ đồng và giảm nhẹ xuống còn 101,10 tỷ đồng năm 2024.

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Việt Anh - Trưởng ban, Ban Khoa học - Công nghệ, Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, nhà trường triển khai hoạt động chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu theo cách tiếp cận hệ sinh thái nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo đã được kế thừa, bồi đắp và phát triển liên tục trong nhiều năm.

Thông qua hệ sinh thái này, các thông tin về kết quả nghiên cứu của nhà trường cùng với nhu cầu đặt hàng từ mạng lưới doanh nghiệp được kết nối, trao đổi và chia sẻ thường xuyên, qua đó hình thành dòng cung – cầu công nghệ trên nền tảng hợp tác với doanh nghiệp, tạo động lực thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa các sản phẩm khoa học – công nghệ.

pgs-ts-truong-viet-anh.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Việt Anh - Trưởng ban, Ban Khoa học - Công nghệ, Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: NVCC

“Về mô hình triển khai, hiện Đại học Bách khoa Hà Nội đang áp dụng đồng thời nhiều hình thức chuyển giao. Trong đó, mô hình truyền thống được thực hiện thông qua việc kết nối, quảng bá các kết quả nghiên cứu có tính khả thi tới doanh nghiệp, từ đó phát triển các nhiệm vụ khoa học – công nghệ ứng dụng nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp giải pháp công nghệ thay thế theo nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp thông qua hợp đồng nghiên cứu và chuyển giao.

Bên cạnh đó, nhà trường đẩy mạnh mô hình chuyển giao đồng hành trực tiếp, với sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ đầu quá trình nghiên cứu, đầu tư hoặc đồng đầu tư trang thiết bị cho phòng thí nghiệm, cùng thống nhất đề bài đặt hàng và đồng hành từ khâu nghiên cứu, thử nghiệm đến hoàn thiện sản phẩm công nghệ.

Một hướng đi khác cũng được chú trọng là mô hình ươm tạo và hình thành doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off), dựa trên các sáng chế, giải pháp công nghệ của các nhóm nghiên cứu, phối hợp với hệ thống doanh nghiệp BK-Holdings để thu hút nguồn lực đầu tư từ các đối tác”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Việt Anh thông tin.

Từ thực tiễn triển khai, Trưởng ban, Ban Khoa học - Công nghệ, Đại học Bách khoa Hà Nội nhấn mạnh, để được doanh nghiệp tiếp nhận, sản phẩm công nghệ và giải pháp cần đáp ứng các điều kiện: tiêu chuẩn công nghiệp, giá thành và hiệu quả phù hợp. Trong đó, tính sáng tạo và hiểu biết công nghệ trong thực tiễn và sản xuất là yêu cầu quan trọng đối với người làm nghiên cứu chuyển giao.

dh-bkhn.jpg
Sản phẩm nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: website nhà trường

“Việc có các doanh nghiệp đồng hành sớm trong quá trình nghiên cứu là một lợi thế lớn để rút ngắn giai đoạn thử nghiệm sản phẩm, đồng thời bổ trợ được nguồn lực cũng như các điều chỉnh cần thiết để hướng sản phẩm tới thị trường nhằm đảm bảo sức cạnh tranh và phù hợp với nhu cầu thực tiễn.

Về tổ chức triển khai, việc chuyển giao cần nhanh gọn, đảm bảo tiến độ, hiệu quả và chú trọng hạn chế tối đa việc làm gián đoạn quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Trong quá trình chuyển giao, đội ngũ kỹ thuật viên – kỹ sư có kỹ năng công nghiệp thành thạo đóng vai trò quan trọng.

Về chính sách, nhà trường phải đóng vai trò “bệ đỡ”, thông qua cơ chế chính sách linh hoạt về các vấn đề tài chính, sở hữu trí tuệ, hệ sinh thái nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, cơ chế chấp nhận thử nghiệm rủi ro có kiểm soát để khuyến khích được tinh thần sáng tạo và sự cam kết trong hoạt động chuyển giao công nghệ”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Việt Anh thông tin thêm.

Cần ưu tiên hoàn thiện cơ chế định giá, phân chia lợi ích và phát triển các đơn vị trung gian

Trường Đại học Thủy lợi cũng là một trong những cơ sở giáo dục đại học có sự chuyển biến rõ rệt trong công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.

Theo báo cáo thường niên và công khai thông tin các năm học (từ 2021-2022 đến 2024-2025), năm 2021, nhà trường thu 14 tỷ đồng từ hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Đến năm 2022, con số này giảm nhẹ xuống 13 tỷ đồng.

Năm 2024, nguồn thu từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của nhà trường tăng mạnh lên 30.396 triệu đồng (30,396 tỷ đồng) và năm 2025 tăng lên 31.000 triệu đồng (31 tỷ đồng).

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Sỹ Tâm - Trưởng phòng, Phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế, Trường Đại học Thủy lợi nhấn mạnh vai trò quan trọng của hệ thống các đơn vị khoa học công nghệ trong phát triển bền vững của nhà trường.

Trong đó, cần đẩy mạnh phát triển mô hình công ty, viện nghiên cứu và các đơn vị khoa học – công nghệ trực thuộc trường đại học, nhằm gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ.

pgs-ho-sy-tam.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Sỹ Tâm - Trưởng phòng, Phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế, Trường Đại học Thủy lợi. Ảnh: website nhà trường

“Hiện nay, Trường Đại học Thủy lợi có mạng lưới các đơn vị chuyển giao khoa học công nghệ trải dài từ Bắc vào Nam. Bên cạnh nhiệm vụ đào tạo, các đơn vị này trực tiếp tham gia tư vấn, nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ, góp phần giải quyết nhiều vấn đề thực tiễn của các địa phương trong lĩnh vực tài nguyên nước, thủy lợi, môi trường, phòng chống thiên tai và phát triển hạ tầng.

Các đơn vị khoa học công nghệ đồng thời cung cấp nguồn tư liệu thực tế quan trọng cho chương trình đào tạo, tạo điều kiện cho sinh viên thực hành, thực tập tại hiện trường. Đây cũng là môi trường để giảng viên, nhà khoa học trau dồi kiến thức, tích lũy kinh nghiệm chuyên môn gắn với thực tiễn.

Bên cạnh giá trị học thuật và xã hội, hoạt động của các đơn vị khoa học công nghệ còn đóng góp tích cực vào nguồn thu hợp pháp của nhà trường và cải thiện thu nhập cho giảng viên”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Sỹ Tâm cho hay.

Để nhận diện đúng những “nút thắt” trong thương mại hóa sản phẩm khoa học – công nghệ ở các cơ sở giáo dục đại học, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Sỹ Tâm, trước hết cần phân biệt rõ hai hướng triển khai: thương mại hóa sản phẩm từ sở hữu trí tuệ (sáng chế, giải pháp hữu ích) và thương mại hóa từ hoạt động tư vấn, chuyển giao công nghệ.

Trưởng phòng, Phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế, Trường Đại học Thủy lợi cho rằng, những rào cản lớn nhất trong thương mại hóa sản phẩm từ sở hữu trí tuệ hiện nay không nằm ở số lượng hay chất lượng kết quả nghiên cứu, mà chủ yếu xuất phát từ cơ chế triển khai sau khi văn bằng bảo hộ đã được cấp.

Trong đó, khó khăn nổi bật là việc định giá tài sản trí tuệ còn nhiều lúng túng do thiếu phương pháp và tổ chức định giá đủ tin cậy, phù hợp với điều kiện Việt Nam, kéo theo rủi ro trong quá trình chuyển nhượng, góp vốn hoặc cấp phép khai thác.

Đồng thời, cơ chế sử dụng và phân chia lợi ích từ tài sản trí tuệ trong trường đại học vẫn chưa thực sự linh hoạt. Các quy định liên quan đến quyền sở hữu, quyền khai thác và phân chia lợi ích giữa nhà trường, nhóm tác giả và đơn vị trung gian ở nhiều trường hợp còn phức tạp, khiến động lực thương mại hóa của nhà khoa học bị ảnh hưởng.

485779863-1053202070178236-7271939670445400948-n.jpg
Một sản phẩm khoa học công nghệ của Trường Đại học Thủy lợi. Ảnh: website nhà trường

Một rào cản khác được Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Sỹ Tâm chỉ ra là khoảng cách từ sáng chế đến sản phẩm thương mại vẫn còn lớn. Nhiều sáng chế mới dừng ở mức nguyên lý hoặc mô hình thử nghiệm, cần có thêm nguồn lực tài chính để hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm quy mô lớn và chứng minh hiệu quả kinh tế trước khi doanh nghiệp sẵn sàng tiếp nhận.

Ngoài ra, hệ sinh thái hỗ trợ thương mại hóa tài sản trí tuệ trong các trường đại học hiện vẫn thiếu và yếu, đặc biệt là các đơn vị trung gian chuyên nghiệp như văn phòng chuyển giao công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm hay doanh nghiệp spin-off. Điều này khiến quá trình kết nối sáng chế với thị trường còn manh mún, thiếu tính hệ thống.

“Để thúc đẩy thương mại hóa sáng chế và giải pháp hữu ích hiệu quả hơn, cần ưu tiên hoàn thiện cơ chế định giá, cơ chế phân chia lợi ích, hỗ trợ nguồn lực để hoàn thiện công nghệ và phát triển các đơn vị trung gian, thay vì chỉ tập trung gia tăng số lượng văn bằng bảo hộ”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Sỹ Tâm nhấn mạnh.

Một mô hình “3 nhà” hoàn chỉnh sẽ tạo động lực tăng trưởng và phát triển khoa học công nghệ

Nhằm đưa Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia vào thực tiễn, mô hình hợp tác “3 nhà” Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp được xem là cấu trúc then chốt.

Để mô hình “3 nhà” phát huy hiệu quả thực chất, theo Trưởng phòng, Phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế, Trường Đại học Thủy lợi, trước hết cần nhìn thẳng vào những nguyên nhân khiến mô hình này chưa phát triển như kỳ vọng, từ đó có giải pháp chính sách phù hợp.

Thứ nhất, doanh nghiệp hiện nay chưa thực sự đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D). Phần lớn doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, còn ưu tiên lợi ích ngắn hạn, trong khi đầu tư cho R&D đòi hỏi nguồn lực lớn, thời gian dài và mức độ rủi ro cao. Điều này làm giảm nhu cầu tiếp nhận các sản phẩm khoa học – công nghệ từ trường đại học.

Thứ hai, cơ chế bảo hộ và khai thác sở hữu trí tuệ chưa đủ hiệu quả để tạo niềm tin cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp vẫn còn e ngại về quyền khai thác, chia sẻ lợi ích và rủi ro pháp lý khi sử dụng các sáng chế, giải pháp hữu ích có nguồn gốc từ khu vực nghiên cứu công lập, làm chậm quá trình thương mại hóa.

Thứ ba, chính sách của Nhà nước chưa thực sự tạo được “không gian hợp tác” thuận lợi cho hai nhà còn lại. Các cơ chế đặt hàng nghiên cứu, đồng tài trợ, chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước – doanh nghiệp – trường đại học còn hạn chế; thủ tục hành chính và tài chính trong nhiều trường hợp chưa phù hợp với đặc thù hợp tác nghiên cứu – chuyển giao công nghệ.

Thứ tư, từ phía nhà trường và nhà khoa học, không phải lúc nào cũng có sẵn các nhóm nghiên cứu mạnh hoặc chương trình nghiên cứu dài hạn đủ khả năng giải quyết những bài toán cụ thể, mang tính ứng dụng cao mà doanh nghiệp quan tâm. Việc thiếu các nghiên cứu theo chuỗi, từ nghiên cứu nền tảng đến phát triển sản phẩm, cũng làm giảm khả năng kết nối với doanh nghiệp.

“Vì vậy, theo tôi, chính sách thúc đẩy mô hình “3 nhà” cần tập trung tháo gỡ đồng thời các điểm nghẽn nêu trên: khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho R&D; hoàn thiện cơ chế bảo hộ và khai thác sở hữu trí tuệ; thiết kế các chính sách linh hoạt để Nhà nước đóng vai trò “bà đỡ”; đồng thời tạo điều kiện cho các trường đại học xây dựng nhóm nghiên cứu và chương trình nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn thị trường”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Sỹ Tâm cho hay.

technobridge-vjec-7-min-scaled.jpg
Trường Đại học Thủy lợi hợp tác với Công ty Technobridge NKE (Nhật Bản). Ảnh: website nhà trường

Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Việt Anh khẳng định, một mô hình “3 nhà” hoàn chỉnh sẽ tạo lập được thể chế và chính sách đồng bộ, gắn kết hài hòa giữa con người và các nguồn lực xã hội, từ đó tạo động lực cho tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ.

Những chính sách đổi mới trong phát triển khoa học – công nghệ hiện nay đã và đang từng bước tháo gỡ các điểm nghẽn tồn tại lâu nay. Hoạt động chuyển giao công nghệ, nếu được triển khai hiệu quả, sẽ tạo ra giá trị đột phá khi tri thức và sáng tạo trở thành nguồn lực giúp nhà khoa học làm giàu chính đáng, đồng thời giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trên nền tảng công nghệ, đặc biệt là việc làm chủ các công nghệ lõi.

Để mô hình “3 nhà” thực sự phát huy hiệu quả, việc kiến tạo thị trường khoa học – công nghệ có ý nghĩa then chốt, nhằm biến công nghệ thành hàng hóa, giúp khoa học tạo ra giá trị có thể đo đếm và đóng góp trực tiếp cho phát triển kinh tế đất nước.

Quá trình này đòi hỏi vai trò kiến tạo của Nhà nước thông qua cơ chế, chính sách phù hợp, cùng với sự tham gia chủ động của doanh nghiệp, các tổ chức khoa học – công nghệ và đội ngũ nhân lực sáng tạo.

“Đối với mỗi trường đại học, nhân lực nghiên cứu và đa dạng chuyên môn là ưu thế. Đặc thù của nghiên cứu khoa học ở các cơ sở giáo dục đại học là gắn liền tri thức, tạo ra những tài sản vô hình trước khi có thể hình thành tài sản hữu hình.

Tùy theo các thế mạnh và nguồn lực, việc lựa chọn lộ trình và mô hình phát triển nghiên cứu thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm sẽ được quyết định bởi đặc thù ngành nghề và nguồn nhân lực, cơ hội thị trường và năng lực của mạng lưới doanh nghiệp trong hệ sinh thái nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo”, Trưởng ban, Ban Khoa học - Công nghệ, Đại học Bách khoa Hà Nội chia sẻ.

Đình Nam