Cần tạo “bộ lọc chung” để siết đào tạo ngành Dược, hạn chế tối đa rủi ro nguồn nhân lực

06/03/2026 06:23
Thúy Hiền

GDVN - Theo PGS.TS Đinh Thị Thanh Hải, ngành Dược hiện được mở "tràn lan" nhưng không phải cơ sở đào tạo nào cũng đáp ứng đầy đủ yêu cầu theo quy định.

Theo thống kê của Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, ngành Dược hiện được đào tạo ở 45 cơ sở giáo dục đại học và nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên cả nước và nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên cả nước. Tuy nhiên, theo đánh giá của lãnh đạo một số cơ sở giáo dục, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực dược tại Việt Nam vẫn còn những bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn. Vì vậy, việc rà soát, nâng chuẩn và tăng cường quản lý chất lượng đào tạo là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

Chất lượng đào tạo còn “chênh” giữa các trường tiềm ẩn nhiều rủi ro

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Thị Thanh Hải - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Dược Hà Nội cho biết, tính đến ngày 18/12/2025, đội ngũ giảng viên của nhà trường có 5 giáo sư, 45 phó giáo sư, 75 tiến sĩ và 61 thạc sĩ. Với cơ cấu này, nếu đối sánh theo Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT về chuẩn cơ sở giáo dục đại học, tỷ lệ này đạt yêu cầu đối với cơ sở có đào tạo sau đại học là tối thiểu 40% giảng viên có trình độ tiến sĩ.

"Đào tạo ngành Dược nói riêng và khối ngành khoa học sức khỏe nói chung luôn đặt ra yêu cầu rất cao về chuẩn chương trình, chất lượng đội ngũ và các điều kiện bảo đảm thực hiện. Chương trình đào tạo ngành Dược ở cả bậc đại học và sau đại học có khối lượng kiến thức lớn, thời lượng học tập và thực hành kéo dài, đòi hỏi sự đầu tư bài bản về học thuật lẫn cơ sở vật chất.

Bên cạnh đó, theo quy định của Luật Giáo dục đại học, đối với đào tạo trình độ sau đại học, đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy phải đáp ứng các tiêu chuẩn chặt chẽ hơn, đặc biệt là yêu cầu về trình độ tiến sĩ và năng lực nghiên cứu chuyên sâu. Với những trường có bề dày và đội ngũ mạnh thì đây không phải trở ngại lớn nhưng với các cơ sở mới thành lập hoặc quy mô đào tạo nhỏ, việc đáp ứng điều kiện này sẽ là thách thức đáng kể.

Bên cạnh yếu tố nhân lực, chất lượng chương trình đào tạo còn chịu tác động bởi nhiều điều kiện bảo đảm khác như cơ sở vật chất, hệ thống thực hành lâm sàng, năng lực hợp tác quốc tế và mức độ tương thích với các chuẩn đào tạo tiên tiến trên thế giới. Đây là những tiêu chí không dễ đáp ứng, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập giáo dục ngày càng sâu rộng.

Nhiều trường cùng đào tạo ngành Dược nhưng ở một số cơ sở đào tạo quy mô nhỏ, dù có mong muốn mở rộng hợp tác quốc tế nhưng chưa đạt được mức độ hòa hợp chương trình theo yêu cầu, nhất là về cấu trúc học phần, thời lượng thực hành và chuẩn đầu ra.

Ngoài ra, đào tạo dược trên thế giới gắn chặt với các kỳ thi chứng chỉ hành nghề mang tính quốc gia. Ở Đức, Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác, sinh viên phải trải qua nhiều kỳ thi sàng lọc từ giai đoạn đại cương, chuyên ngành đến thực hành trước khi được cấp chứng chỉ hành nghề. Các cơ chế này đóng vai trò “bộ lọc” chất lượng rất hiệu quả. Trong khi đó, Việt Nam chưa có hệ thống thi chứng chỉ hành nghề mang tính sàng lọc chặt chẽ như vậy nên việc đánh giá chất lượng đào tạo giữa các cơ sở còn nhiều khó khăn”, Phó Giáo sư Đinh Thị Thanh Hải cho biết.

pgsts-ng-thi-thanh-hai.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Thị Thanh Hải - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Dược Hà Nội. Ảnh: NVCC.

Theo cô Hải, việc cải tiến chương trình đào tạo là yêu cầu bắt buộc trong bối cảnh hội nhập. Trường Đại học Dược Hà Nội đã xây dựng và triển khai chương trình thực hành - thực tập nghề nghiệp theo hướng tiệm cận quốc tế trong 3 năm qua và bước đầu đạt kết quả tích cực. Các doanh nghiệp, bệnh viện phối hợp rất chặt chẽ vì chính họ cũng là đối tượng hưởng lợi trực tiếp từ mô hình này. Khi sinh viên được đưa đi thực tập sớm, được rèn luyện tay nghề bài bản và có trải nghiệm nghề nghiệp thực tế, các đơn vị tuyển dụng sẽ tiết kiệm đáng kể thời gian đào tạo lại, rút ngắn giai đoạn thử việc.

Đồng thời, trước yêu cầu hội nhập, nhà trường đã triển khai 6 đề án thành phần nhằm tăng cường năng lực tiếng Anh cho sinh viên, từ viết khóa luận, bảo vệ, phản biện bằng tiếng Anh đến mở rộng trao đổi quốc tế. Số lượng sinh viên ngành Dược của trường tham gia trao đổi học thuật ở nước ngoài mỗi năm lên tới hàng trăm, tạo ấn tượng mạnh với chuyên gia quốc tế.

Nhà trường cũng liên tục mở rộng hợp tác với các cơ sở đào tạo uy tín và một số trường dược hàng đầu trong khu vực. Những giải pháp đồng bộ này giúp chất lượng đào tạo không chỉ nâng cao mà còn hội nhập sâu với chuẩn mực quốc tế.

Ngoài ra, trong những năm gần đây, ngành Dược được đào tạo tại nhiều cơ sở giáo dục đại học với mức điểm đầu vào chênh lệch khá lớn. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, Phó Giáo sư Đinh Thị Thanh Hải cho rằng, điều đáng lo ngại nhất là ngành Y và Dược gắn chặt với thực hành nghề nghiệp và liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng người dân. Nếu điều kiện thực hành không bảo đảm, không bài bản và chuẩn chỉnh, sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể thiếu hụt kỹ năng chuyên môn, ảnh hưởng đến khả năng thích nghi với công việc. Đặc biệt trong lĩnh vực Dược, sai sót chuyên môn có thể kéo theo hệ lụy lớn đối với an toàn người bệnh.

“Theo quy định hiện hành, đào tạo ngành Dược phải bảo đảm hệ thống phòng thí nghiệm đạt chuẩn với tối thiểu 20 phòng thí nghiệm chuyên biệt. Tuy nhiên, trên thực tế không phải cơ sở đào tạo nào cũng đáp ứng đầy đủ yêu cầu này, đặc biệt là các trường đại học đa ngành quy mô nhỏ, nơi nguồn lực đầu tư còn hạn chế và khó bảo đảm hạ tầng thực hành theo chuẩn.

Nếu không đáp ứng đầy đủ, sinh viên không được thực hành cá nhân thường xuyên sẽ dẫn đến kỹ năng nghề nghiệp sẽ khó hình thành. Trong y tế, kỹ năng chỉ được tạo lập thông qua quá trình lặp đi lặp lại và rèn luyện liên tục, vì vậy việc thiếu thực hành, thiếu trải nghiệm nghề nghiệp sớm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tay nghề.

Giải pháp căn cơ là cần sớm xây dựng kỳ thi cấp chứng chỉ hành nghề quốc gia để tạo “bộ lọc” chất lượng, tương tự mô hình của nhiều nước phát triển. Nếu không có cơ chế sàng lọc chung, việc đánh giá chất lượng giữa các cơ sở đào tạo sẽ rất khó minh bạch và người chịu thiệt thòi đầu tiên có thể là người bệnh.

Đồng thời, điều kiện mở ngành, quy mô tuyển sinh và chuẩn chương trình đào tạo là những yếu tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực. Việc “siết” lại công tác đào tạo, đặc biệt ở khâu điều kiện đảm bảo chất lượng và chuẩn đầu ra là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm uy tín của ngành và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Thị Thanh Hải cho hay.

Cần nhìn nhận đúng vai trò của bệnh viện thực hành

Trong đào tạo khối ngành khoa học sức khỏe, chất lượng không chỉ được quyết định bởi chương trình hay đội ngũ giảng viên trên giảng đường mà còn phụ thuộc trực tiếp vào môi trường thực hành lâm sàng. Nếu thiếu một nền tảng thực hành đủ chuẩn và đủ chiều sâu, chuẩn đầu ra khó có thể bảo đảm tính thực chất. Từ yêu cầu đó, vai trò của bệnh viện thực hành cần được nhìn nhận đầy đủ và đúng vị thế.

Một hiệu trưởng trường cao đẳng đào tạo dược cho rằng, bệnh viện thực hành cần được nhìn nhận không chỉ là một địa điểm tiếp nhận sinh viên “đi thực tập”, mà phải được xác lập đúng vị thế là trung tâm đào tạo lâm sàng và môi trường đào tạo liên ngành cốt lõi của khối khoa học sức khỏe. Đây chính là không gian chuyển tiếp quan trọng giữa giảng đường và thực tiễn hành nghề - nơi quyết định việc người học chuyển hóa kiến thức lý thuyết thành năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và bản lĩnh nghề nghiệp.

Nếu giảng đường cung cấp nền tảng khoa học thì bệnh viện thực hành là nơi kiểm chứng, củng cố và hoàn thiện nền tảng đó thông qua trải nghiệm trên người bệnh thật, tình huống thật và áp lực nghề nghiệp thật.

Với sinh viên khối ngành khoa học sức khỏe, bệnh viện thực hành là môi trường rèn luyện tư duy lâm sàng từ khai thác bệnh sử, thăm khám, phân tích triệu chứng, chỉ định cận lâm sàng đến chẩn đoán, xử trí và theo dõi điều trị. Chính tại đây, sinh viên học cách đối diện với sự phức tạp và không chắc chắn của thực tế, học cách ra quyết định dựa trên bằng chứng, đồng thời phải cân nhắc yếu tố đạo đức, giao tiếp và an toàn người bệnh. Quá trình này giúp hình thành tư duy hệ thống, khả năng chịu trách nhiệm và năng lực hành nghề độc lập trong tương lai.

Đối với sinh viên ngành Dược, bệnh viện thực hành là nền tảng để phát triển năng lực dược lâm sàng - một yêu cầu ngày càng quan trọng trong bối cảnh chăm sóc sức khỏe hiện đại. Tại đây, người học không chỉ hiểu về cơ chế tác dụng của thuốc trên lý thuyết mà còn tham gia theo dõi sử dụng thuốc trên từng người bệnh cụ thể, đánh giá tương tác, tác dụng không mong muốn, hiệu chỉnh liều và phối hợp điều trị cùng bác sĩ. Chính môi trường lâm sàng giúp sinh viên Dược chuyển từ vai trò “cung ứng thuốc” sang vai trò “tham gia điều trị”, góp phần bảo đảm sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả.

Không dừng lại ở đào tạo đơn ngành, bệnh viện còn là không gian lý tưởng để triển khai đào tạo liên ngành. Trong môi trường này, sinh viên các ngành Y, Dược, Điều dưỡng, Xét nghiệm, Phục hồi chức năng,… cùng tham gia chăm sóc một người bệnh, cùng trao đổi chuyên môn, hội chẩn và phối hợp thực hiện kế hoạch điều trị. Việc học cách lắng nghe, tôn trọng chuyên môn của nhau và phối hợp nhịp nhàng trong nhóm chăm sóc chính là nền tảng của mô hình chăm sóc toàn diện, lấy người bệnh làm trung tâm. Đây cũng là xu hướng tất yếu của hệ thống y tế hiện đại, nơi hiệu quả điều trị không chỉ phụ thuộc vào năng lực cá nhân mà còn vào chất lượng làm việc nhóm.

Để thực hiện được sứ mệnh đào tạo đó, một bệnh viện tham gia đào tạo phải đáp ứng đồng bộ nhiều tiêu chí nghiêm ngặt. Thứ nhất, cần bảo đảm cơ cấu bệnh nhân và hệ thống chuyên khoa đa dạng, phù hợp với mục tiêu và chuẩn đầu ra của từng ngành đào tạo.

Thứ hai, đội ngũ bác sĩ, dược sĩ và nhân viên y tế tham gia hướng dẫn không chỉ giỏi chuyên môn mà còn được trang bị năng lực sư phạm y học, biết cách truyền đạt, phản hồi và đánh giá người học một cách khoa học.

Thứ ba, bệnh viện cần có hệ thống quản lý thực tập chặt chẽ, với mục tiêu học tập cụ thể, công cụ đánh giá rõ ràng, minh bạch và gắn với năng lực thực hành thực tế.

Bên cạnh đó, cơ sở vật chất phục vụ học tập tại chỗ từ phòng giao ban, phòng hội chẩn, thư viện, hệ thống hồ sơ bệnh án điện tử đến các phương tiện mô phỏng cũng đóng vai trò hỗ trợ quan trọng. Đặc biệt, bệnh viện đào tạo phải duy trì và lan tỏa văn hóa an toàn người bệnh, bảo đảm mọi hoạt động thực hành của sinh viên đều đặt lợi ích và sự an toàn của người bệnh lên hàng đầu.

Cuối cùng, mối liên kết chặt chẽ giữa bệnh viện và cơ sở đào tạo là điều kiện tiên quyết, từ xây dựng chương trình, phân công giảng viên, tổ chức thực tập đến đánh giá và cải tiến chất lượng đào tạo.

Chỉ khi đáp ứng đầy đủ và đồng bộ các yêu cầu đó, bệnh viện thực hành mới thực sự trở thành “giảng đường mở” của khối ngành khoa học sức khỏe, nơi đào tạo ra đội ngũ nhân lực y tế không chỉ vững chuyên môn, thành thạo kỹ năng, mà còn có khả năng làm việc độc lập, phối hợp hiệu quả và thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của hệ thống y tế.

1772182169529.png
Cán bộ Trường Đại học Dược Hà Nội trao đổi chuyên môn và chia sẻ kinh nghiệm đào tạo. Ảnh: NVCC.

Còn theo Phó Giáo sư Đinh Thị Thanh Hải, mô hình bệnh viện thực hành trực thuộc trường đại học đang được xem là xu hướng tất yếu trong đào tạo khối ngành khoa học sức khỏe. Việc sở hữu cơ sở thực hành riêng giúp nhà trường chủ động tổ chức giảng dạy lâm sàng, đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển chuyên môn, đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa đào tạo với thực tiễn hành nghề.

Tuy nhiên, bên cạnh mô hình “trường trong bệnh viện” hoặc “bệnh viện trong trường”, trong bối cảnh chưa có bệnh viện trực thuộc, Trường Đại học Dược Hà Nội đã lựa chọn hướng đi xây dựng mạng lưới cơ sở thực hành rộng khắp, gắn kết chặt chẽ với hệ thống y tế hiện có nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo lâm sàng.

Với truyền thống lâu năm, Trường Đại học Dược Hà Nội sở hữu mạng lưới đối tác từ các bệnh viện trung ương như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đến nhiều bệnh viện chuyên khoa và doanh nghiệp dược. Giảng viên của trường vừa làm công tác chuyên môn tại các bệnh viện, vừa tham gia điều trị, đồng thời mang kiến thức thực tiễn cập nhật về giảng dạy.

Mô hình này tạo ra sự gắn kết hai chiều: tri thức mới từ nghiên cứu và y học thế giới được chuyển giao tới bệnh viện; kinh nghiệm thực tiễn từ bệnh viện được đưa vào bài giảng.

Bên cạnh đó, nhiều giảng viên của trường tham gia xây dựng chính sách, soạn thảo văn bản pháp luật chuyên ngành cho Bộ Y tế. Nhờ vậy, sinh viên được tiếp cận sớm và trực tiếp với những cập nhật pháp lý, hướng dẫn chuyên môn mới nhất. Đây cũng là một trong những yếu tố tạo nên sự khác biệt và lợi thế cạnh tranh của nhà trường so với các cơ sở đào tạo mới thành lập hoặc quy mô nhỏ. Chính sự kết hợp giữa nền tảng học thuật, thực hành nghề nghiệp rộng mở, hội nhập quốc tế sâu và tham gia xây dựng chính sách ngành đã tạo nên bản sắc và chất lượng đặc thù của Trường Đại học Dược Hà Nội.

Thúy Hiền