Hà Nội hỗ trợ đào tạo 1000 tiến sĩ, đề xuất có thêm kinh phí cho CSGDĐH để gắn trách nhiệm

10/03/2026 06:25
Thanh Hà

GDVN - Yêu cầu về công bố khoa học góp phần khẳng định năng lực học thuật của nghiên cứu sinh, hướng tới giải quyết những thách thức phát triển của Thủ đô.

Nhằm hoàn thành mục tiêu phát triển nguồn nhân lực tinh hoa, thành phố Hà Nội đang xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo 1.000 nghiên cứu sinh giai đoạn 2026-2030.

Theo Dự thảo Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh của thành phố Hà Nội, tiêu chuẩn đầu ra cần đạt đối với nghiên cứu sinh về công bố khoa học và tính ứng dụng thực tiễn như sau:

Đối với lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ: Có ít nhất 02 bài báo được đăng trên các tạp chí quốc tế uy tín thuộc danh mục Q1 hoặc Q2 (theo xếp hạng Scopus/Web of Science). Trong đó, ít nhất 01 bài nghiên cứu sinh phải là tác giả chính (First Author hoặc Corresponding Author).

Đối với lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn: Yêu cầu có ít nhất 01 bài báo được đăng trên các tạp chí quốc tế uy tín thuộc danh mục Q1 hoặc Q2 (theo xếp hạng Scopus/Web of Science) hoặc xuất bản 01 chương sách tại các nhà xuất bản quốc tế uy tín.

Báo cáo ít nhất 02 lần/năm tại hội thảo chuyên đề chia sẻ kết quả nghiên cứu tại đơn vị công tác; hoặc tại hội nghị, hội thảo do Thành phố tổ chức để chuyển giao tri thức; hoặc tại hội thảo khoa học trong và ngoài nước.

Kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh được chuyển hóa thành luận cứ khoa học cho chính sách, mô hình quản trị, giải pháp công nghệ, quy trình mới hoặc sản phẩm ứng dụng phục vụ Thành phố.

Có văn bản đánh giá hoặc xác nhận về tính khả thi/triển vọng ứng dụng của đơn vị, cơ quan chuyên môn thuộc Thành phố hoặc các doanh nghiệp/tổ chức liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu.

Theo chuyên gia đến từ một số cơ sở giáo dục đại học, chủ trương của thành phố Hà Nội trong việc xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh gắn với giải quyết các bài toán thực tiễn của thành phố là một hướng đi tích cực. Đồng thời, việc đặt ra các yêu cầu công bố khoa học đối với nghiên cứu sinh cũng góp phần đảm bảo chất lượng giữa hoạt động đào tạo, nghiên cứu của các trường đại học với nhu cầu phát triển của địa phương.

Đào tạo nghiên cứu sinh hướng tới tạo ra các sản phẩm khoa học có giá trị

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Sáng - Phó Hiệu trưởng Trường Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội đánh giá cao chủ trương xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh của thành phố Hà Nội, bởi thực tế cho thấy nghiên cứu sinh hiện nay vẫn gặp không ít khó khăn trong quá trình thực hiện công bố khoa học quốc tế. Một trong những thách thức lớn nhất là vấn đề kinh phí cho hoạt động nghiên cứu.

“Nhiều nghiên cứu sinh hiện nay vẫn phải vừa học, vừa làm để bảo đảm cuộc sống. Trong khi đó, hoạt động nghiên cứu lại đòi hỏi nhiều chi phí như mua vật tư tiêu hao, sử dụng phòng thí nghiệm, thu thập dữ liệu, cũng như các chi phí liên quan đến công bố quốc tế. Khi phải cân đối giữa sinh hoạt cá nhân và chi phí nghiên cứu, không ít người gặp áp lực lớn.

Do đó, nếu thành phố Hà Nội có cơ chế hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu sinh thì sẽ giúp giảm bớt gánh nặng ban đầu, tạo điều kiện để họ tập trung hơn vào nghiên cứu", Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Sáng nhìn nhận.

2.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Sáng - Phó Hiệu trưởng Trường Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: website nhà trường.

Bên cạnh đó, theo Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Sáng, các yêu cầu được nêu trong dự thảo đối với cơ sở đào tạo có nghiên cứu sinh tham gia tuyển chọn để nhận kinh phí hỗ trợ, cũng như các tiêu chuẩn đầu ra mà nghiên cứu sinh phải đạt được, đặc biệt là về công bố khoa học quốc tế và tính ứng dụng thực tiễn của kết quả nghiên cứu là những quy định cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

"Yêu cầu cụ thể về số lượng bài báo được đăng trên các tạp chí quốc tế uy tín thuộc danh mục Q1 hoặc Q2 theo xếp hạng Scopus/Web of Science cho thấy định hướng nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ theo hướng tiệm cận với chuẩn mực quốc tế. Đồng thời, dự thảo nhấn mạnh yếu tố ứng dụng của kết quả nghiên cứu, không chỉ góp phần bảo đảm chất lượng học thuật của luận án mà còn giúp các đề tài nghiên cứu gắn chặt hơn với các vấn đề thực tiễn của xã hội và nhu cầu phát triển của địa phương.

Cùng với đó, các tiêu chuẩn này cũng góp phần bảo đảm chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tại cơ sở giáo dục đại học, giúp quá trình đào tạo nghiên cứu sinh không chỉ dừng ở việc hoàn thành luận án mà còn phải tạo ra các sản phẩm khoa học có giá trị, được cộng đồng học thuật quốc tế ghi nhận.

Mặt khác, những yêu cầu này cũng góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học ngày càng chuyên nghiệp hơn và tăng cường mức độ hội nhập của nghiên cứu khoa học Việt Nam vào mạng lưới học thuật toàn cầu", Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Sáng chia sẻ.

Cùng bàn về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Ngọc Anh - Trưởng phòng, Phòng Khoa học Công nghệ, Trường Đại học Mỏ - Địa chất cũng cho rằng, việc đặt ra tiêu chí về bài báo khoa học là cần thiết, bởi đây là thước đo quan trọng phản ánh năng lực nghiên cứu cũng như khả năng tham gia giải quyết những bài toán lớn và điểm nghẽn trong quá trình xây dựng, phát triển Thủ đô của nghiên cứu sinh.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Ngọc Anh phân tích: "Các bài báo khoa học, đặc biệt là những công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín, không chỉ là sản phẩm học thuật của quá trình nghiên cứu mà còn thể hiện năng lực nghiên cứu độc lập, tư duy khoa học cũng như khả năng tiếp cận các chuẩn mực học thuật quốc tế của nghiên cứu sinh. Thông qua các công bố này, kết quả nghiên cứu được cộng đồng khoa học phản biện, đánh giá khách quan, từ đó khẳng định giá trị và mức độ đóng góp của đề tài nghiên cứu.

Bên cạnh đó, khi các tiêu chí công bố khoa học được đặt ra rõ ràng, nghiên cứu sinh sẽ có định hướng nghiên cứu nghiêm túc, bài bản hơn ngay từ đầu. Đặc biệt, trong bối cảnh Hà Nội đang định hướng hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh gắn với việc giải quyết các bài toán lớn, các điểm nghẽn trong quá trình phát triển đô thị, hạ tầng, tài nguyên, môi trường và nhiều lĩnh vực khác, việc yêu cầu các kết quả nghiên cứu phải được công bố khoa học cũng là cách để bảo đảm tính khoa học, tính mới và giá trị thực tiễn của các đề tài".

492007021-667343339353083-5342752486897061473-n-6360.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Ngọc Anh - Trưởng phòng, Phòng Khoa học - Công nghệ, Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Ảnh: website nhà trường.

Ở một khía cạnh khác, bên cạnh tiêu chí về số lượng và chất lượng công bố khoa học, câu chuyện bảo đảm liêm chính học thuật cũng đặt ra yêu cầu cần có cơ chế giám sát, xử lý rõ ràng nhằm bảo đảm tính minh bạch và giá trị thực chất của các công trình nghiên cứu, đặc biệt trong các trường hợp bài báo khoa học được sử dụng để xét hỗ trợ nhưng sau đó bị rút hoặc bị gỡ do vi phạm.

Liên quan đến nội dung này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Ngọc Anh nêu quan điểm: "Trong trường hợp bài báo bị rút do vi phạm liêm chính học thuật, nghiên cứu sinh cần phải hoàn trả toàn bộ khoản kinh phí hỗ trợ đã nhận. Bởi lẽ, việc một bài báo bị rút khỏi tạp chí khoa học thường cho thấy đã có vấn đề phát sinh trong quá trình nghiên cứu hoặc công bố.

Có nhiều trường hợp, bài báo bị gỡ do xuất phát từ việc xử lý số liệu không khách quan, thiếu trung thực trong quá trình nghiên cứu, hoặc sao chép nội dung từ các công trình khác nhưng không trích dẫn đầy đủ theo quy định. Khi chất lượng và tính trung thực của công trình nghiên cứu không được bảo đảm thì việc thu hồi các quyền lợi liên quan, trong đó có kinh phí hỗ trợ là điều cần thiết và phù hợp với thông lệ chung trong hoạt động nghiên cứu khoa học".

Đồng quan điểm, Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Sáng cho rằng: "Việc công bố khoa học không chỉ là yêu cầu về mặt số lượng hay hình thức mà quan trọng hơn là phải bảo đảm tính trung thực, khách quan và chuẩn mực đạo đức trong nghiên cứu. Do đó, trường hợp bài báo khoa học được sử dụng làm căn cứ để xét hỗ trợ nhưng sau đó bị rút vì vi phạm liêm chính học thuật, thì toàn bộ các quyền lợi gắn với công bố đó, bao gồm khoản kinh phí hỗ trợ đã nhận cần phải được thu hồi theo quy định".

Tăng kết nối giữa cơ sở đào tạo và địa phương để đảm bảo tính ứng dụng của kết quả nghiên cứu

Trong bối cảnh thành phố Hà Nội định hướng đặt hàng các đề tài nghiên cứu gắn với những bài toán lớn, điểm nghẽn trong quản lý và phát triển đô thị, cơ chế phối hợp giữa chính quyền thành phố và các cơ sở giáo dục đại học được xem là yếu tố quan trọng để kết nối nhu cầu thực tiễn với hoạt động nghiên cứu trong nhà trường.

Từ góc nhìn này, theo Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Sáng, mối liên hệ giữa chính quyền địa phương và các cơ sở giáo dục đại học cần được xây dựng theo hướng hợp tác lâu dài. Khi thành phố chủ động "đặt hàng" các nhiệm vụ khoa học, công nghệ gắn với nhu cầu phát triển Thủ đô, nghiên cứu sinh sẽ có điều kiện tiếp cận trực tiếp với các vấn đề thực tiễn, từ đó hình thành những đề tài có giá trị ứng dụng cao. Ngược lại, kết quả nghiên cứu từ các trường đại học cũng có cơ hội được đưa vào thử nghiệm, triển khai trong thực tiễn quản lý và phát triển của thành phố.

"Bên cạnh đó, để cơ chế này vận hành hiệu quả, cần thiết lập các kênh kết nối chính thức giữa cơ quan quản lý và các cơ sở giáo dục đại học, như các chương trình hợp tác nghiên cứu, diễn đàn khoa học, công nghệ hoặc hệ thống cơ sở dữ liệu chung về các bài toán thực tiễn của đô thị.

Dựa trên sự phối hợp chặt chẽ giữa hai bên, thành phố không chỉ giải quyết được những vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển, mà còn tận dụng được nguồn lực tri thức rất lớn từ các trường đại học. Đây cũng là cách để khoa học thực sự đi vào đời sống”, Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Sáng nêu ý kiến.

484069783-1010441484543035-5690929731233034834-n-6963.jpg
Hội thảo “Những điều cần biết về nghiên cứu khoa học” tại Đại học Bách khoa Hà Nội với sự tham gia của hơn 150 nghiên cứu sinh, học viên cao học. Ảnh: website nhà trường.

Trong khi đó, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Ngọc Anh chia sẻ: "Thành phố Hà Nội có nhiều dự án quy mô lớn trong các lĩnh vực hạ tầng đô thị, môi trường hay giao thông. Đây đều là những lĩnh vực có khối lượng dữ liệu thực tế rất phong phú, hoàn toàn có thể trở thành nguồn dữ liệu quan trọng cho các đề tài luận án tiến sĩ.

Ví dụ như các dự án đường sắt đô thị (metro) đang được triển khai, đặc biệt là những tuyến đi ngầm trong khu vực nội đô. Từ những dự án như vậy, có thể đặt ra rất nhiều hướng nghiên cứu khác nhau, từ các vấn đề kỹ thuật xây dựng, công nghệ thi công, kiểm soát môi trường, đến quản lý dự án, tổ chức vận hành hay bảo đảm an toàn lao động. Đây đều là những chủ đề mang tính thực tiễn cao, nếu được khai thác tốt có thể đóng góp trực tiếp cho quá trình phát triển đô thị của thành phố.

Tuy nhiên, trên thực tế các nghiên cứu sinh và giảng viên hướng dẫn hiện vẫn gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận dữ liệu từ các dự án này. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, việc chia sẻ dữ liệu từ các dự án lớn cho các cơ sở nghiên cứu và trường đại học là điều khá phổ biến, giúp các công trình khoa học gắn chặt hơn với thực tiễn.

Trong khi đó, tại Việt Nam, không ít đơn vị quản lý hoặc tư vấn dự án vẫn còn tâm lý e ngại khi chia sẻ dữ liệu, do lo lắng về tính nhạy cảm của thông tin hoặc những tác động xã hội có thể phát sinh. Điều này vô hình trung khiến nhiều đề tài nghiên cứu khó tiếp cận được nguồn dữ liệu gốc, dẫn đến hạn chế về chiều sâu và tính ứng dụng của kết quả nghiên cứu".

Vì vậy, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Ngọc Anh, nếu muốn đội ngũ nghiên cứu sinh thực sự tham gia giải quyết những bài toán lớn của thành phố, cần có cơ chế tạo điều kiện thuận lợi hơn để họ được tiếp cận và khai thác các nguồn dữ liệu thực tế từ các dự án lớn. Khi có dữ liệu đầy đủ và đáng tin cậy, các nghiên cứu sinh mới có thể tiến hành phân tích, đánh giá một cách khoa học, từ đó đề xuất những giải pháp khả thi hoặc đóng góp các kết quả nghiên cứu có giá trị cho quá trình phát triển đô thị của Thủ đô.

Về phía cơ sở đào tạo, ngay từ khâu tuyển sinh, nhà trường cần định hướng nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài bám sát những mục tiêu, bài toán thực tiễn mà thành phố đang đặt ra. Trong quá trình đó, nhà trường sẽ đóng vai trò là cầu nối trung gian, vừa thực hiện chức năng quản lý nghiên cứu sinh theo quy định, vừa là đầu mối phối hợp, trao đổi với các cơ quan của thành phố trong quá trình triển khai các đề tài nghiên cứu.

Đồng thời, các khoản kinh phí hỗ trợ từ phía thành phố nên được thực hiện trung gian thông qua cơ sở đào tạo. Khi đó, nhà trường sẽ chịu trách nhiệm phân bổ kinh phí cho nghiên cứu sinh trong quá trình học tập và theo tiến độ thực hiện đề tài, đồng thời cũng là đơn vị đứng ra xử lý trong trường hợp phát sinh các vấn đề liên quan đến việc sử dụng kinh phí hoặc cần thực hiện thu hồi hỗ trợ.

Mặt khác, trong hoạt động đào tạo tiến sĩ, trường đại học là đơn vị trực tiếp cấp bằng và chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng đào tạo. Vì vậy, khi có những vấn đề phát sinh liên quan đến luận án, học vị hay chuẩn đầu ra của nghiên cứu sinh, cơ sở đào tạo là đơn vị có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định, bao gồm cả việc thu hồi bằng tiến sĩ nếu phát hiện sai phạm nghiêm trọng.

Từ thực tiễn này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Ngọc Anh đề xuất: "Để bảo đảm trách nhiệm của các bên tham gia, trong chính sách hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh của thành phố cần có thêm kinh phí hỗ trợ cho nhà trường, chẳng hạn khoảng 5% tổng kinh phí hỗ trợ tại cơ sở đào tạo. Điều này cũng tương tự như học bổng của một số doanh nghiệp đặt hàng đào tạo nghiên cứu sinh, họ cũng đều có một khoản kinh phí dành riêng cho nhà trường trong công tác quản lý và hỗ trợ nghiên cứu sinh.

Khoản kinh phí này không chỉ giúp nhà trường có thêm nguồn lực để thực hiện công tác quản lý, hỗ trợ, giám sát quá trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh mà còn góp phần gắn trách nhiệm của cơ sở đào tạo trong việc thẩm định đề tài, bảo đảm nội dung nghiên cứu phù hợp với nhu cầu thực tiễn của thành phố, cũng như thực hiện việc giải ngân và thu hồi kinh phí khi cần thiết".

Thanh Hà