Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 05/2026/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, trong đó quy đổi các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ ra giờ chuẩn và định mức giảng dạy theo từng trình độ đào tạo. Đáng chú ý, theo Thông tư, một giờ giảng bằng tiếng nước ngoài đối với các môn học, mô-đun không phải là môn ngoại ngữ được tính bằng 1,5-2,0 giờ chuẩn. Như vậy, khi giảng bằng tiếng nước ngoài, nhà giáo giáo dục nghề nghiệp có thể được tính gấp đôi giờ dạy chuẩn, điều này được nhiều lãnh đạo trường trung cấp, cao đẳng đánh giá là một chính sách tích cực.
Làm sao để có đội ngũ nhà giáo nghề vừa vững chuyên môn vừa giỏi ngoại ngữ?
Trước quy định trên, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Trần Hữu Châu Giang – Quyền Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế cho biết, đây không phải là điểm mới đối với nhà trường. Khoảng 5-6 năm qua, Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế đã áp dụng hệ số quy đổi 1,5 giờ chuẩn cho mỗi giờ giảng bằng tiếng nước ngoài đối với các môn học, mô-đun không phải là ngoại ngữ. Từ năm học này, sau khi có quy định mới, nhà trường có thể xem xét nâng hệ số lên 2,0 giờ chuẩn.
Từ thực tiễn triển khai, thầy Giang cho rằng, để giảng dạy chuyên môn bằng ngoại ngữ, giáo viên, giảng viên nghề phải đồng thời có cả chuyên môn vững và năng lực ngoại ngữ tốt.
Để xây dựng đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu này, nhà trường đã triển khai nhiều chính sách thu hút và giữ chân nhân lực, đặc biệt là những người từng học tập, làm việc ở nước ngoài. Các chính sách bao gồm hỗ trợ kinh phí, tạo điều kiện việc làm cho vợ/ chồng của giảng viên để họ yên tâm gắn bó lâu dài với trường, đồng thời có khoản hỗ trợ bổ sung trong thu nhập hằng tháng.
Thực tế nhà trường cho thấy, những người đáp ứng được cả hai yêu cầu này phần lớn là các giảng viên từng học sau đại học ở nước ngoài. Tuy nhiên, việc thu hút nhân lực như vậy từ nước ngoài về đối với hệ thống giáo dục nghề nghiệp không hề dễ dàng, nhất là trong 2-3 năm gần đây khi phải cạnh tranh với khu vực doanh nghiệp và cả các cơ quan nhà nước về mức thu nhập và chế độ thu hút. Do đó, chỉ những người thực sự đam mê giảng dạy hoặc mong muốn đóng góp cho quê hương mới lựa chọn làm việc lâu dài trong môi trường giáo dục.
Vì vậy, khoảng 95% đội ngũ giảng viên có thể giảng dạy chuyên môn bằng tiếng nước ngoài tại trường là những giảng viên cơ hữu được cử đi đào tạo ở nước ngoài và trở về công tác lâu dài.
Thông tin thêm, thầy Giang cho biết, tại trường việc triển khai hiện mới áp dụng ở một số môn học và ngành nghề nhất định, chưa thực hiện đại trà. Tuy vậy, cả sinh viên và giảng viên nhà trường đều rất hứng thú với hình thức giảng dạy này. Dù phương pháp không hoàn toàn mới, nhưng cách truyền đạt phải linh hoạt, đổi mới nhằm giúp sinh viên dễ dàng, thuận lợi hơn trong việc tiếp cận nội dung chuyên môn bằng ngoại ngữ.
Tuy nhiên, việc triển khai giảng dạy chuyên môn bằng ngoại ngữ cũng gặp không ít khó khăn, đặc biệt liên quan đến chất lượng đầu vào của sinh viên. Theo thầy Giang, để học các học phần chuyên ngành bằng ngoại ngữ, sinh viên cần có nền tảng ngoại ngữ nhất định. Trong khi đó, mặt bằng chung đầu vào của sinh viên giáo dục nghề nghiệp còn hạn chế. Vì vậy, những năm gần đây, nhà trường phải tổ chức tách sinh viên tùy theo năng lực chuyên môn và trình độ ngoại ngữ để phân chia vào lớp thường và lớp chất lượng cao. Trong đó, nhà trường sẽ triển khai cách dạy này đối với một số học phần, môn học cho học sinh, sinh viên lớp chất lượng.
Trong thời gian tới, dự kiến trong năm 2026, Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế sẽ mở rộng mô hình lớp chất lượng cao lên 3 ngành đào tạo. Tầm nhìn từ đây đến năm 2030, nhà trường đặt mục tiêu có khoảng 7-8 ngành triển khai mô hình lớp chất lượng cao này, trong đó mỗi lớp sẽ có một số học phần chuyên môn được giảng dạy bằng tiếng Anh.
Theo thầy Giang, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, sinh viên giáo dục nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp không chỉ làm việc trong nước mà còn có cơ hội tham gia thị trường lao động quốc tế. Vì vậy, ngoài kỹ năng nghề, người học cần nâng cao năng lực ngoại ngữ. Việc tăng cường giảng dạy các học phần chuyên môn bằng tiếng Anh sẽ góp phần chuẩn bị cho xu hướng này, đồng thời khuyến khích sinh viên chủ động học ngoại ngữ và phát triển năng lực hội nhập.
Nếu triển khai hiệu quả, mô hình này không chỉ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của thị trường lao động mà còn giúp nguồn nhân lực Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh trên phạm vi quốc tế. Thực tế cho thấy, nhiều sinh viên của nhà trường khi làm việc ở nước ngoài được đánh giá cao về kỹ năng chuyên môn, song còn hạn chế về ngoại ngữ nên gặp khó khăn khi cạnh tranh các vị trí quản lý trong nhà máy, phân xưởng.
Cũng theo thầy Giang, để đẩy mạnh giảng dạy chuyên môn bằng tiếng Anh, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần từng bước nâng cao chất lượng đầu vào của sinh viên, đặc biệt là nền tảng ngoại ngữ. Đồng thời, các trường cần tiếp tục cử giảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài để hình thành đội ngũ có đủ năng lực giảng dạy bằng ngoại ngữ. Bên cạnh đó, việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường cũng cần được triển khai bằng những chiến lược và chính sách cụ thể nhằm nâng cao trình độ ngoại ngữ của đội ngũ giảng viên, từ đó tạo động lực để sinh viên phát triển năng lực này.
Giúp người học có cơ hội tiếp cận tri thức và công nghệ nghề nghiệp quốc tế tốt hơn
Cùng bàn về vấn đề trên, Tiến sĩ Đặng Văn Sáng - Hiệu trưởng Trường Trung cấp Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh cho hay, quy định này vừa ghi nhận đúng mức công sức của giảng viên khi giảng dạy chuyên môn bằng ngoại ngữ, vừa tạo động lực khuyến khích mở rộng các học phần giảng dạy bằng tiếng nước ngoài. Qua đó, người học có cơ hội tiếp cận tri thức và công nghệ nghề nghiệp quốc tế tốt hơn. Có thể nói rằng, đây là một “đòn bẩy chính sách” tích cực thúc đẩy quốc tế hóa giáo dục nghề nghiệp. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, cần triển khai đồng bộ các giải pháp cụ thể.
Theo thầy Sáng, việc tính giờ giảng bằng tiếng nước ngoài cao hơn giờ chuẩn thông thường sẽ tạo ra động lực nhất định để giảng viên mạnh dạn chuyển đổi sang giảng dạy bằng tiếng Anh hoặc các ngoại ngữ khác. Bởi lẽ, giảng dạy chuyên môn bằng ngoại ngữ đòi hỏi giảng viên phải đầu tư nhiều hơn về thời gian chuẩn bị bài giảng, cập nhật thuật ngữ chuyên ngành quốc tế và vận dụng phương pháp sư phạm phù hợp. Việc quy đổi giờ chuẩn cao hơn thể hiện sự ghi nhận và khuyến khích của chính sách đối với những nỗ lực này.
Đáng nói, động lực từ cơ chế quy đổi giờ chuẩn chỉ là một yếu tố hỗ trợ. Để giảng viên thực sự chuyển đổi sang giảng dạy bằng ngoại ngữ, cần có thêm các điều kiện như bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ chuyên ngành, xây dựng giáo trình song ngữ và tạo môi trường học thuật khuyến khích sử dụng ngoại ngữ trong giảng dạy. Khi những yếu tố này được đảm bảo, chính sách sẽ phát huy hiệu quả rõ rệt hơn.
Để đáp ứng yêu cầu giảng dạy chuyên môn bằng tiếng nước ngoài, thầy Sáng cho rằng, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần có kế hoạch bồi dưỡng và chuẩn hóa đội ngũ giảng viên theo một số hướng chính như nâng cao năng lực ngoại ngữ chuyên ngành cho giảng viên thông qua các khóa đào tạo và chuẩn hóa theo các chứng chỉ quốc gia, quốc tế; Tập huấn phương pháp giảng dạy chuyên môn bằng ngoại ngữ, giúp giảng viên truyền đạt kiến thức hiệu quả trong môi trường song ngữ; Xây dựng giáo trình và học liệu song ngữ, chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành; Tăng cường hợp tác quốc tế, tạo cơ hội cho giảng viên trao đổi học thuật và tiếp cận môi trường giảng dạy bằng ngoại ngữ.
Những giải pháp này sẽ góp phần hình thành đội ngũ giảng viên đủ năng lực giảng dạy chuyên môn bằng ngoại ngữ, đáp ứng yêu cầu hội nhập của giáo dục nghề nghiệp.
Ở tầm vĩ mô, theo thầy Sáng, chính sách khuyến khích giảng dạy chuyên môn bằng tiếng nước ngoài có thể tác động tích cực đến năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực giáo dục nghề nghiệp Việt Nam trong khu vực ASEAN và thị trường lao động quốc tế.
Lấy ý kiến góp ý cho dự thảo Thông tư quy định chế độ làm việc đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp
Trước hết, người học được tiếp cận kiến thức chuyên môn bằng ngoại ngữ sẽ nâng cao khả năng sử dụng thuật ngữ nghề nghiệp quốc tế, từ đó dễ dàng thích ứng với môi trường làm việc đa quốc gia. Bên cạnh đó, điều này cũng góp phần tăng khả năng dịch chuyển lao động trong khu vực ASEAN, nơi nhiều ngành nghề đang từng bước công nhận kỹ năng nghề lẫn nhau.
Về lâu dài, chính sách này sẽ giúp hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam tiệm cận các chuẩn đào tạo quốc tế, qua đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng sức hấp dẫn của lao động Việt Nam đối với doanh nghiệp FDI và thị trường lao động toàn cầu.
Còn theo Thạc sỹ Trần Phương – Hiệu trưởng Trường Trung cấp Việt Giao, việc quy đổi giờ giảng bằng tiếng nước ngoài từ 1,5 đến 2 giờ chuẩn là một bước tiến tích cực của chính sách giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay, đặc biệt là khi lao động Việt Nam ngày càng tham gia thị trường khu vực và quốc tế, năng lực ngoại ngữ trong đào tạo nghề trở thành yếu tố rất quan trọng.
Cơ chế quy đổi này vừa ghi nhận công sức của giảng viên, vừa tạo ra động lực để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp từng bước triển khai giảng dạy chuyên môn bằng ngoại ngữ.
Ở góc độ chính sách, quy định này sẽ giúp người học tiếp cận kiến thức chuyên môn theo chuẩn quốc tế và tăng khả năng thích ứng với môi trường làm việc đa quốc gia. Đồng thời, việc quy đổi giờ chuẩn cao hơn là một cách ghi nhận đúng mức độ nỗ lực và khối lượng công việc của giảng viên.
Thầy Phương cũng cho rằng, chính sách khuyến khích giảng dạy bằng tiếng nước ngoài sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực dịch vụ như du lịch, khách sạn, nhà hàng hay logistics. Khi người học được tiếp cận kiến thức chuyên môn bằng ngoại ngữ ngay từ trong quá trình đào tạo, họ sẽ dễ dàng thích ứng với môi trường làm việc quốc tế. Hơn nữa, đây cũng là một bước đi quan trọng giúp hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam để nâng cao uy tín và vị thế của lao động nước nhà trên thị trường lao động khu vực và thế giới.