Những “điểm nghẽn” khiến bài báo khoa học chưa tạo nhiều giá trị cho nền kinh tế như kỳ vọng

25/03/2026 06:24
Khánh Hòa

GDVN - Thương mại hóa kết quả nghiên cứu được xem là khâu then chốt để đưa khoa học vào thực tiễn, song các trường đại học vẫn đối mặt với nhiều rào cản.

Lãnh đạo nhiều trường đại học, viện nghiên cứu cho rằng, để hiện thực hóa mục tiêu "các trường đại học cần gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn, bởi đại học không thể chỉ đếm bài báo khoa học, mà phải tạo ra giá trị cho nền kinh tế thông qua các sản phẩm nghiên cứu có khả năng chuyển giao và ứng dụng" theo chỉ đạo của Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn thì cần thúc đẩy mạnh mẽ thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đồng thời tháo gỡ rào cản về cơ chế, nguồn lực và liên kết nhằm đưa tri thức khoa học đi vào đời sống.

Bài báo khoa học không phải đích đến cuối cùng của hoạt động nghiên cứu

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trần Vũ - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, chỉ đạo phải thay đổi quan điểm để nghiên cứu khoa học có tác động thực tế không chỉ đếm bài báo của Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn là một định hướng đúng và cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

Trong thời gian qua, công bố khoa học được sử dụng như một thước đo trung tâm trong nhiều hoạt động, từ đánh giá nghiên cứu, xếp hạng đại học đến xét chức danh giáo sư, phó giáo sư. Khi đó, việc gia tăng số lượng bài báo là hệ quả tự nhiên của cách thiết kế hệ thống mục tiêu và cơ chế khuyến khích.

Có thể nói, công bố khoa học là một sản phẩm quan trọng và không thể thiếu của nghiên cứu. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy làm chủ các công nghệ chiến lược, cần nhìn nhận sản phẩm khoa học, công nghệ có khả năng ứng dụng thực tiễn và thương mại hóa như một trụ cột song hành, không phải thứ yếu. Điều này đòi hỏi phải rà soát và điều chỉnh lại hệ thống mục tiêu, tiêu chí đánh giá và cơ chế khuyến khích để tạo sự cân bằng hợp lý giữa "công bố" và "tạo ra giá trị từ tri thức".

Nắm bắt xu hướng này, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã có sự chuyển dịch rõ ràng trong định hướng và cơ chế khuyến khích, từ việc chủ yếu tập trung vào hỗ trợ công bố quốc tế sang song song thúc đẩy phát triển các sản phẩm khoa học và công nghệ mang tính chiến lược và có khả năng ứng dụng thực tiễn.

Nhà trường ưu tiên hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, nhóm nghiên cứu tiềm năng trong lĩnh vực công nghệ chiến lược, đồng thời tăng cường hỗ trợ về hạ tầng, trang thiết bị cũng như điều kiện nghiên cứu để tạo ra các kết quả có chiều sâu, có lộ trình phát triển công nghệ rõ ràng.

Trong cơ chế đánh giá giảng viên và nhà khoa học, trường từng bước mở rộng hệ tiêu chí, không chỉ xem công bố khoa học là thước đo duy nhất, mà đánh giá một cách hài hòa giữa công bố quốc tế với các sản phẩm khoa học, công nghệ có giá trị ứng dụng, khả năng chuyển giao và thương mại hóa.

Cùng với đó, nhà trường đẩy mạnh hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp công nghệ, thông qua Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Công nghệ và các trung tâm, doanh nghiệp công nghệ trực thuộc, nhằm tạo môi trường, động lực để giảng viên, nhà khoa học chủ động đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng trong thực tiễn.

601360216-1165742742412376-1021315081064472955-n.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trần Vũ - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường

Theo thầy Vũ, việc công bố bài báo khoa học có vai trò quan trọng đối với các trường đại học. Đây là kênh công bố tri thức mới, là nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo, đồng thời là thước đo năng lực học thuật và mức độ hội nhập quốc tế của các trường. Tuy nhiên, cần nhìn nhận bài báo không phải là đích đến cuối cùng, mà là một "đầu ra trung gian" trong chuỗi giá trị của hoạt động nghiên cứu.

Giá trị của nghiên cứu chỉ được phát huy đầy đủ khi tri thức đó được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm hoặc giải pháp phục vụ thực tiễn. Vì vậy, công bố các bài báo là cần thiết, nhưng cần được đặt trong một hệ sinh thái rộng hơn, nơi nghiên cứu gắn với việc tạo ra giá trị cho xã hội.

Trong khi đó, Giáo sư, Tiến sĩ Võ Xuân Vinh - Viện trưởng, Viện Nghiên cứu kinh doanh, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, nằm trong top 10.000 nhà khoa học có tầm ảnh hưởng nhất thế giới năm 2025 cho rằng: Quan điểm đại học không thể chỉ đếm bài báo khoa học, mà phải tạo ra giá trị cho nền kinh tế thông qua các sản phẩm nghiên cứu có khả năng chuyển giao và ứng dụng là hoàn toàn đúng trong bối cảnh hiện nay. Số lượng bài báo chỉ là một thước đo trong nhiều tiêu chí khác để đo lường tác động của nghiên cứu đến phát triển xã hội.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu khoa học là khám phá tri thức, qua đó góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn và hướng đến một thế giới tốt đẹp hơn. Các công trình khoa học, dù ở lĩnh vực nào, đều có tác động nhất định đến thực tiễn. Tuy nhiên bài báo hay công bố khoa học không nên được xem là đích đến cuối cùng, mà cần hướng tới mục tiêu cao hơn là ứng dụng và tạo ra giá trị cho xã hội.

Ở lĩnh vực khoa học tự nhiên, tác động thực tiễn của các công trình nghiên cứu sẽ dễ nhận diện hơn. Trong khi đó, ở lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn những tác động này thường mang tính trừu tượng và dài hạn hơn. Vì vậy, để đánh giá mức độ tác động của công trình khoa học đến thực tiễn cần nhìn nhận theo cách tiếp cận toàn diện và rộng mở hơn.

thay-vinh.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Võ Xuân Vinh - Viện trưởng, Viện Nghiên cứu kinh doanh, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh website nhà trường.

Cần tháo gỡ điểm nghẽn cơ chế để thúc đẩy thương mại hóa nghiên cứu

Quá trình đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học tại các trường đại học, viện nghiên cứu đang đặt ra yêu cầu đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, với trọng tâm là thúc đẩy thương mại hóa. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt với nhiều rào cản về cơ chế, nguồn lực và năng lực triển khai.

Về vấn đề này, thầy Vinh cho rằng, một bài báo khoa học không chỉ là đầu ra của quá trình nghiên cứu, mà còn là đầu vào cho quá trình lan tỏa và tái tạo tri thức. Thông qua các công bố khoa học, tri thức được chia sẻ, kiểm chứng và tiếp tục phát triển trong cộng đồng học thuật cũng như thực tiễn.

Từ đó, việc chuyển hóa tri thức thành các sản phẩm, giải pháp cụ thể, trong đó có thương mại hóa kết quả nghiên cứu, được xem là bước phát triển tiếp theo. Song, đây là quá trình phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên liên quan.

Ở lĩnh vực khoa học tự nhiên, các sản phẩm nghiên cứu sẽ mang tính ứng dụng cụ thể hơn, nên khoảng cách giữa nghiên cứu hàn lâm và ứng dụng thực tiễn gần hơn. Ngược lại, trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, các nghiên cứu thường gắn với định hướng, tư tưởng hoặc chính sách, nên việc thương mại hóa còn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù vậy, điều này không đồng nghĩa với việc các nghiên cứu đó kém giá trị, bởi tác động của chúng có thể thể hiện ở những khía cạnh khác, như định hình nhận thức hoặc hỗ trợ hoạch định chính sách.

Thực tế hiện nay, nhiều trường đại học đã và đang đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu gắn với các vấn đề thực tiễn, từng bước chú trọng hơn đến việc đo lường và đánh giá tác động của nghiên cứu đối với phát triển kinh tế - xã hội. Một số mô hình hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp, địa phương đã được triển khai, góp phần đưa kết quả nghiên cứu tiến gần hơn tới ứng dụng.

Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng việc nâng cao chất lượng công trình khoa học và quá trình chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành giá trị thực tiễn đều cần có thời gian. Đây là những quá trình mang tính tích lũy, phụ thuộc vào năng lực nghiên cứu, cơ chế chính sách cũng như mức độ gắn kết giữa các chủ thể liên quan.

Việc điều chỉnh định hướng phát triển và cơ chế đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học cần được thực hiện một cách kiên trì, đồng bộ, với tầm nhìn dài hạn, thay vì kỳ vọng vào những chuyển biến tức thời. Chỉ khi có cách tiếp cận bền vững, hệ thống nghiên cứu trong các trường đại học mới có thể tạo ra tác động rõ nét và lâu dài đối với nền kinh tế - xã hội.

betterimage-1773977936551.jpg
Dự án nghiên cứu Robot đánh đàn piano của Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh website nhà trường.

Trong khi đó, thầy Vũ cho rằng, rào cản lớn nhất đối với các trường đại học công lập trong thương mại hóa sản phẩm khoa học và công nghệ xuất phát từ việc kết quả nghiên cứu được xem là tài sản công, chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của các cơ chế quản lý hiện hành. Điều đó được thể hiện ở những điểm nổi bật sau:

Thứ nhất, khung chính sách về quản lý, khai thác và phân chia lợi ích từ tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước còn nhiều điểm chưa theo kịp thực tiễn đổi mới sáng tạo. Điều này khiến các trường và nhà khoa học có xu hướng lựa chọn phương án an toàn về mặt thủ tục, nhưng khó thúc đẩy thương mại hóa ở quy mô lớn hoặc tạo đột phá.

Thứ hai, hạ tầng nghiên cứu, phát triển tại nhiều trường đại học đầu tư dàn trải, thiếu tính đồng bộ, nên chưa đáp ứng tốt yêu cầu thử nghiệm, hoàn thiện và chuẩn hóa công nghệ theo nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp.

Thứ ba, còn khoảng trống về tài chính ở giai đoạn hoàn thiện công nghệ (giai đoạn chuyển tiếp giữa nghiên cứu và thương mại hóa). Đây là giai đoạn cần nguồn lực để thử nghiệm, tối ưu và chứng minh tính khả thi thị trường, nhưng rất khó tiếp cận vốn.

Thứ tư, năng lực quản trị công nghệ và thương mại hóa còn hạn chế. Trường đại học mạnh về nghiên cứu, nhưng thiếu đội ngũ chuyên nghiệp về định giá công nghệ, quản trị tài sản trí tuệ, đàm phán chuyển giao và gọi vốn. Do đó, không thể kỳ vọng nhà khoa học đồng thời đảm nhiệm vai trò của doanh nhân trong quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Thứ năm, liên kết với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp có năng lực R&D (nghiên cứu và phát triển) chưa thực sự hiệu quả do khác biệt về mục tiêu, nhịp độ và cách tiếp cận giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất, kinh doanh.

"Nếu tháo gỡ được các điểm nghẽn then chốt về chính sách, tài chính trung gian và đội ngũ chuyên nghiệp hóa thương mại hóa công nghệ, các trường đại học hoàn toàn có thể trở thành chủ thể trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thay vì chỉ dừng lại ở vai trò tạo ra tri thức", thầy Vũ nhận định.

bach-khoa-2.jpg
Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nỗ lực trong việc thực hiện thương mại hóa sản phẩm công nghệ. Ảnh website nhà trường.

Thầy Vũ nhấn mạnh, bài báo khoa học cần được hiểu là một trong những sản phẩm đầu ra của quá trình đầu tư nghiên cứu, không phải là mục tiêu duy nhất của khoản chi phí để đăng bài báo quốc tế. Trên thực tế, chi phí khoảng từ 200-400 triệu đồng cho một công bố quốc tế không chỉ là phí công bố bài báo, mà bao gồm toàn bộ chi phí của quá trình nghiên cứu, như chi phí nhân lực, vật tư, thiết bị, vận hành phòng thí nghiệm, thu thập và xử lý dữ liệu, cũng như chi phí tham gia các hoạt động học thuật và hợp tác nghiên cứu. Phí công bố chỉ là một cấu phần trong tổng chi phí đó.

Về hiệu quả, cần phân biệt rõ giữa các loại hình nghiên cứu. Đối với nghiên cứu cơ bản, giá trị chủ yếu nằm ở việc tạo ra tri thức mới, đóng góp cho nền tảng khoa học lâu dài nên không phải lúc nào cũng có thể đo lường ngay bằng hiệu quả kinh tế trực tiếp.

Đối với nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng, nếu sau khi công bố không có các bước tiếp nối để phát triển thành công nghệ, sản phẩm hoặc giải pháp phục vụ thực tiễn, mới có thể nói rằng hiệu quả của khoản đầu tư chưa được phát huy đầy đủ, đặc biệt là về mặt kinh tế - xã hội.

Vấn đề cốt lõi nằm ở việc cần phải thiết kế các cơ chế phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả tổng thể của hoạt động nghiên cứu, trong đó có việc phân loại rõ định hướng nghiên cứu (cơ bản và ứng dụng); bố trí nguồn lực cho giai đoạn hoàn thiện công nghệ; tăng cường kết nối với doanh nghiệp để đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

Khánh Hòa