Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long đã ký ban hành Quyết định số 336/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035” (Quyết định số 336).

Theo đó, một trong những nhiệm vụ và giải pháp của chương trình là “Nghiên cứu xây dựng và thí điểm mô hình “doanh nghiệp trong cơ sở đào tạo”, doanh nghiệp khởi nghiệp (startup), doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) gắn với cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox)”.

Với kinh nghiệm nhiều năm trực tiếp tham gia công tác kiểm định chất lượng giáo dục tại các cơ sở đào tạo trên cả nước, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Toàn - Chủ tịch Hội đồng Kiểm định chất lượng giáo dục, Phó Giám đốc Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội đã có cơ hội quan sát và đánh giá sát sao hiệu quả của một số mô hình gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam đã có cuộc trao đổi với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Toàn để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này từ góc nhìn của một chuyên gia kiểm định.

thay-dinh-van-toan.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Toàn - Chủ tịch Hội đồng Kiểm định chất lượng giáo dục, Phó Giám đốc Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: Website Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trường đại học có nhiều nguồn lực để xây dựng doanh nghiệp nhưng còn một số rào cản

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Toàn nhận định, chủ trương thí điểm mô hình doanh nghiệp trong cơ sở đào tạo là một quyết định hoàn toàn đúng và phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước về đổi mới giáo dục, hội nhập và mục tiêu phát triển đất nước. Thực tế, việc thành lập và vận hành doanh nghiệp trong các cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu đã được thí điểm ở Việt Nam từ những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ trước với căn cứ pháp lý là Quyết định số 68/1998/TTg ngày 07/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ. Ngay khi Nghị định số 03/2000/NĐ-CP năm 2000 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp, một số cơ sở đào tạo đại học lớn đã thành lập doanh nghiệp trực thuộc, điển hình là Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Trường Đại học Thủy lợi,... nhưng các doanh nghiệp này hoạt động theo mô hình doanh nghiệp 100% nhà nước.

Tuy nhiên, tại Quyết định số 336, điểm đáng quan tâm là yêu cầu xây dựng thí điểm các doanh nghiệp, trong đó chủ đạo là mô hình “doanh nghiệp khởi nghiệp (startup), doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) gắn với cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox)”. Đặc biệt, một loạt các chính sách và giải pháp đã được đề cập nhằm tháo gỡ những rào cản và hỗ trợ giảng viên, sinh viên tại cơ sở đào tạo có thể khởi nghiệp để hình thành, phát triển những doanh nghiệp này.

Trên thế giới và trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, người ta không đề cập quá nhiều đến lợi nhuận hay khía cạnh hiệu quả hoạt động đơn thuần của bản thân doanh nghiệp trong cơ sở đào tạo, bởi lẽ mục tiêu quan trọng nhất của chúng không chỉ là lợi nhuận. Tất cả các quốc gia đều khẳng định vai trò kết nối giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và việc thành lập, phát triển các doanh nghiệp này hết sức cấp thiết.

Các doanh nghiệp trực tiếp thực hiện và thúc đẩy tiến trình từ đầu cho nghiên cứu, thử nghiệm, chuyển giao đến thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học. Đặc biệt, các doanh nghiệp này kiến tạo môi trường và cơ chế gắn kết đào tạo, nghiên cứu khoa học của nhà trường với xã hội và thị trường. Từ đó, thúc đẩy giảng viên, sinh viên hướng tới đáp ứng yêu cầu của thị trường và phụng sự xã hội ngay từ khi xác định mục tiêu dạy và học, nghiên cứu khoa học, cũng như tạo nguồn thu bền vững cho những hoạt động này, cũng như phát triển nhà trường thông qua hợp tác và xã hội hóa các nguồn lực.

Với kinh nghiệm nhiều năm làm công tác kiểm định chất lượng giáo dục trong trường đại học, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Toàn, việc triển khai mô hình doanh nghiệp, đặc biệt là startup (gắn với ý tưởng/công nghệ đổi mới sáng tạo) và spin-off (khởi nguồn từ các hoạt động nghiên cứu khoa học) trong cơ sở đào tạo có rất nhiều thuận lợi từ đặc tính thế mạnh của trường đại học. Giảng viên, nhà khoa học và sinh viên đều là những người trẻ năng động có kỹ năng tốt trong việc áp dụng công nghệ và có tiềm năng sáng tạo.

Ngoài tiềm năng lớn từ con người, khoa học cơ bản và công nghệ, các trường đại học có lợi thế lớn về nguồn lực vật chất, trang thiết bị thí nghiệm chuyên sâu, khuôn viên và không gian lý tưởng cho đổi mới sáng tạo. Nếu các nguồn lực này được khai thác, chia sẻ cho mục tiêu thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ và triển khai thương mại hóa ra thị trường các kết quả nghiên cứu khoa học và ý tưởng sáng tạo, thì những lợi thế của trường đại học sẽ được phát huy, mang lại lợi ích cho tất cả các bên liên quan, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.

anh-minh-hoa-vnu.jpg
Đoàn Công ty Ricoh làm việc với lãnh đạo Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: Website Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội).

Tuy nhiên, việc triển khai mô hình doanh nghiệp trong cơ sở đào tạo còn gặp nhiều khó khăn từ các rào cản bên ngoài và có cả nguyên nhân từ nội bộ cơ sở giáo dục.

Thứ nhất, doanh nghiệp trong trường đại học công lập còn gặp nhiều thách thức khi thành lập và hoạt động. Rào cản lớn nhất trong thực tiễn vẫn là về thể chế khi giảng viên, nhà khoa học trong các cơ sở đào tạo công lập là viên chức không được thành lập và quản lý doanh nghiệp. Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới Sáng tạo năm 2025 của Quốc hội đã cho phép viên chức trong tổ chức khoa học và công nghệ công lập được tham gia góp vốn, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp hoặc làm việc tại doanh nghiệp do tổ chức thành lập hoặc tham gia thành lập để thương mại hóa kết quả nghiên cứu của tổ chức.

Song, nếu là viên chức, giảng viên không được thành lập doanh nghiệp startup hoặc spin-off để khai thác chính kết quả nghiên cứu khoa học hoặc công nghệ, ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo của họ tạo ra. Phần lớn các nghiên cứu đỉnh cao, nghiên cứu có sản phẩm tiềm năng ứng dụng cho phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia lại có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, cơ quan giao đề tài cũng là chủ sở hữu tài sản trí tuệ nhưng chúng ta chưa có cơ chế giao và khuyến khích đơn vị chủ trì/nhà khoa học là tác giả nghiên cứu chuyển giao và tham gia quá trình thương mại hóa ra thị trường.

Thứ hai, mặc dù Luật Giáo dục đại học năm 2025 của Quốc hội cho phép cơ sở đào tạo công lập được thành lập doanh nghiệp khoa học công nghệ, doanh nghiệp quản lý tài sản trí tuệ, nhưng các cơ chế để thực hiện đánh giá, sử dụng và chuyển đổi tài sản công, thương hiệu, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ cho hoạt động của doanh nghiệp cũng như các cơ chế, hướng dẫn về hợp tác công tư giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, cá nhân chưa được thiết lập rõ ràng để vận hành thuận lợi trong thực tiễn.

Đối với các cơ sở đào tạo công lập, rào cản còn xuất phát từ chính môi trường, phong cách làm việc của mô hình các đơn vị sự nghiệp công lập. Phần lớn cán bộ, giảng viên và nhà khoa học có năng lực nghiên cứu khoa học cùng các sản phẩm công nghệ có thể chuyển giao lại là viên chức trong các cơ sở đào tạo này. Đội ngũ này là những người ngại thay đổi, ít dám mạo hiểm hoặc đôi khi họ muốn thay đổi cũng không làm được.

Do đó, mặc dù nắm giữ nhiều công nghệ và ý tưởng mới qua các nghiên cứu, nhưng họ không đứng ra chính thức thành lập và quản lý doanh nghiệp (nhiều trường hợp nhờ người thân quen đứng tên thành lập hoặc để các doanh nghiệp/tổ chức tư nhân triển khai không chính thức). Cán bộ, giảng viên có các công trình nghiên cứu khoa học có kết quả nhưng chưa có thói quen tạo lập và hướng tới khai thác tài sản trí tuệ do không được hỗ trợ thủ tục một cách hiệu quả và các trợ giúp cụ thể. Trong những tổ chức như vậy, cùng với cơ chế quản lý mang tính hành chính, nhiều thủ tục nhưng thiếu dân chủ sẽ khó có thể nuôi dưỡng ý chí, động lực đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp cho từng thành viên.

vnu-nhan-thiet-bi-keysight-tai-tro-vnu-iti-26.jpg
Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội trực tiếp trải nghiệm thiết bị phòng lab hiện đại do hãng Keysight Technologies (Hoa Kỳ) tài trợ. Ảnh: Website Đại học Quốc gia Hà Nội.

Cần có chính sách để cơ sở giáo dục thực sự trở thành không gian sinh thái cho đổi mới sáng tạo

Từ những thuận lợi và khó khăn trên, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Toàn, để xây dựng và thực hiện thành công thí điểm các mô hình doanh nghiệp trong trường đại học hiện nay, trong đó trọng tâm là mô hình startup, spin-off, cần rất nhiều nỗ lực từ các bên liên quan để tháo gỡ từng nút thắt.

Bên cạnh việc rà soát, hoàn thiện chính sách, cơ chế của các bộ, ngành, địa phương để thực hiện tầm nhìn của một “quốc gia khởi nghiệp” bao gồm: tháo gỡ những cơ chế để phát triển thị trường công nghệ, thông thoáng, cởi mở về khai thác sở hữu trí tuệ đối với nghiên cứu có vốn từ ngân sách nhà nước, thì nên học tập ý tưởng từ Đạo Luật Bayh-Dole của Mỹ và sử dụng, quản lý viên chức là giảng viên/nghiên cứu viên trong các cơ sở giáo dục. Hơn nữa, Chính phủ cần có cơ chế phù hợp để các cơ sở giáo dục đại học thực sự trở thành không gian sinh thái cho đổi mới sáng tạo.

Quan trọng hơn cả, Quyết định số 336 của Thủ tướng Chính phủ cũng đã đưa ra mục tiêu hình thành văn hóa, lan tỏa tinh thần và khát vọng khởi nghiệp, tạo điều kiện và khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục với các nhiệm vụ, chỉ tiêu với từng cấp học. Tuy nhiên, để thực hiện thành công những chỉ tiêu về doanh nghiệp trong cơ sở đào tạo, trường phổ thông và cơ sở giáo dục đại học, cần thay đổi toàn diện về tư duy và cách quản lý điều hành.

Cụ thể, việc loại bỏ những áp lực hành chính, quan liêu để đi vào thực chất, dân chủ và tôn trọng sự khác biệt của người dạy, người học để nuôi dưỡng và thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp cần được chú trọng.

Hơn nữa, hãy để các thành viên trong nhà trường mong muốn thay đổi, dám làm, dám mạo hiểm. Với tinh thần được nuôi dưỡng từ bậc học phổ thông cùng với sự trang bị sớm năng lực, kỹ năng về khởi nghiệp, sự hỗ trợ triển khai của mạng lưới cố vấn, nhà đầu tư mạo hiểm cùng các doanh nghiệp, chắc chắn họ sẽ sớm thành công, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của chương trình tại Quyết định số 336 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt.

Đáng chú ý, một trong những nhiệm vụ và giải pháp của chương trình là: “Đẩy mạnh kết nối mạng lưới cố vấn, nhà đầu tư thiên thần, cựu sinh viên, doanh nghiệp, hình thành các chuỗi cố vấn - đầu tư - thương mại hóa gắn với từng lĩnh vực”.

Đánh giá về nội dung này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Toàn cho hay, các nhiệm vụ và giải pháp đề ra trong chương trình là thiết thực, đã bám sát yêu cầu cấp thiết của quy trình triển khai khởi nghiệp thành công, đặc biệt đối với mô hình doanh nghiệp startup và spin-off trong các cơ sở đào tạo. Để khởi nghiệp thành công thì giảng viên, sinh viên và các tổ chức rất cần sự hỗ trợ, tư vấn sớm từ đội ngũ cố vấn và các bên liên quan, đặc biệt là sự đồng hành của nhà đầu tư, doanh nghiệp.

Tuy vậy, điều cần lưu ý là các cơ sở đào tạo cần quan tâm đến việc hình thành và xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong chính nhà trường. Hệ sinh thái không chỉ hỗ trợ và cung cấp dịch vụ cho các bên tham gia vào hoạt động khởi nghiệp, hình thành mô hình kinh doanh và doanh nghiệp, mà quan trọng hơn là tạo môi trường hình thành, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cho cán bộ giảng viên và sinh viên.

Mạnh Dũng