Trong chương trình làm việc của Thủ tướng Phạm Minh Chính với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng đã có bài phát biểu quan trọng về định hướng phát triển khoa học cơ bản trong giai đoạn mới.
Bộ Khoa học và Công nghệ xác định rõ trách nhiệm của mình là thiết kế thể chế phù hợp để Viện Hàn lâm làm tốt hơn vai trò của mình.
Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài trợ nghiên cứu theo hướng ổn định hơn cho khoa học cơ bản, đồng thời mở ra các cơ chế linh hoạt để kết nối nghiên cứu với ứng dụng. Ngân sách dành cho khoa học cơ bản sẽ được cố định từ 15-20% cho giai đoạn 2025-2030, tức là từ 5-10.000 tỷ đồng mỗi năm, gấp nhiều lần so với trước đây. [1]
Theo đánh giá của các cơ sở giáo dục và nghiên cứu, việc hoàn thiện cơ chế tài trợ nghiên cứu theo hướng ổn định, lâu dài cho khoa học cơ bản sẽ tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động nghiên cứu và phát triển tri thức. Những kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực này là tiền đề quan trọng cho sự ra đời của các công nghệ mới và các nghiên cứu ứng dụng trong thực tiễn.
Việc gắn kết giữa nghiên cứu khoa học cơ bản với thực tiễn vẫn còn một số thách thức
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Đức Giang – Trưởng khoa Khoa Hóa học, Trường Sư phạm, Trường Đại học Vinh chia sẻ, việc hoàn thiện cơ chế tài trợ nghiên cứu theo hướng ổn định hơn cho khoa học cơ bản, ngân sách dành cho khoa học cơ bản sẽ được cố định từ 15-20% cho giai đoạn 2025-2030 là rất quan trọng, thể hiện tầm nhìn dài hạn của Đảng và Nhà nước trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tinh thần này cũng được nhấn mạnh trong Nghị quyết 57-NQ/TW năm 2024 của Bộ Chính trị, khi xác định khoa học và công nghệ là một trong những động lực then chốt để phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Đối với các trường đại học, nguồn lực đầu tư tăng lên sẽ tạo điều kiện cải thiện đáng kể môi trường nghiên cứu. Giảng viên và nhà khoa học có thêm cơ hội tiếp cận các chương trình tài trợ nghiên cứu lớn hơn, ổn định hơn, từ đó có thể theo đuổi các hướng nghiên cứu dài hạn và có chiều sâu.
Đối với sinh viên, đặc biệt là sinh viên các ngành khoa học cơ bản, việc tăng đầu tư cho nghiên cứu sẽ giúp các em có cơ hội tham gia trực tiếp vào các nhóm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm và các đề tài khoa học ngay từ khi còn học đại học. Đây là yếu tố rất quan trọng để hình thành tư duy khoa học và phát hiện, bồi dưỡng các tài năng khoa học trẻ.
Có thể nói, khi khoa học cơ bản được đầu tư đúng mức, các trường đại học sẽ phát huy tốt hơn vai trò vừa là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, vừa là trung tâm nghiên cứu khoa học của quốc gia.
Thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách dành cho các ngành khoa học cơ bản đã được đẩy mạnh, tháo gỡ khó khăn cho ngành này. Tuy nhiên, theo thầy Giang, trong thực tế, việc gắn kết giữa nghiên cứu khoa học cơ bản với thực tiễn vẫn còn một số thách thức.
Thứ nhất, đặc thù của khoa học cơ bản là nghiên cứu nền tảng và dài hạn, nên kết quả nghiên cứu không phải lúc nào cũng có thể chuyển hóa ngay thành sản phẩm ứng dụng. Điều này đôi khi dẫn đến tâm lý cho rằng khoa học cơ bản “xa rời thực tiễn”.
Thứ hai, cơ chế kết nối giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn chưa thực sự mạnh. Nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị khoa học nhưng chưa được thương mại hóa hoặc chuyển giao hiệu quả.
Thứ ba, nguồn lực đầu tư trước đây còn phân tán và chưa đủ mạnh, khiến nhiều nhóm nghiên cứu khó theo đuổi các hướng nghiên cứu dài hạn có tính nền tảng.Ngoài ra, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong trường đại học vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, bao gồm các cơ chế về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, khởi nghiệp từ kết quả nghiên cứu.
“Với chủ trương tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài trợ nghiên cứu theo hướng ổn định hơn cho khoa học cơ bản, đồng thời mở ra các cơ chế linh hoạt để kết nối nghiên cứu với ứng dụng những rào cản này chắc chắn được tháo gỡ”, thầy Giang chia sẻ.
Cùng bàn về vấn đề này, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quý Mười - Trưởng khoa Khoa Toán - Tin, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, mặc dù khoa học cơ bản có vai trò nền tảng đối với đổi mới sáng tạo, nhưng việc gắn kết nghiên cứu với thực tiến vẫn còn một số thách thức như khoảng cách giữa cung và cầu tri thức còn khá lớn. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chưa quen với việc đặt các bài toán khoa học cụ thể cho các viện và trường đại học. Ngược lại, nhiều nhà khoa học vẫn quen với cách tiếp cận nghiên cứu thiên về học thuật thuần túy, đây có thể xem là một trong những thách thức lớn hiện nay.
Bên cạnh đó, cơ chế thử nghiệm và triển khai công nghệ chưa thật sự rõ ràng và hấp dẫn. Để một kết quả nghiên cứu đi vào thực tiễn cần trải qua các giai đoạn thử nghiệm, đánh giá và hoàn thiện công nghệ, tuy nhiên nhiều đề tài hiện nay chủ yếu ưu tiên công bố khoa học hoặc sản phẩm sở hữu trí tuệ. Trong khi đó, thời gian thực hiện các đề tài thường khá ngắn (2–4 năm) và chưa có cơ chế đủ mạnh để hỗ trợ các nhóm nghiên cứu theo đuổi những vấn đề lớn một cách liên tục.
Ngoài ra, nhiều giảng viên, đặc biệt là giảng viên trẻ, chưa nắm rõ cơ chế sở hữu trí tuệ và chia sẻ lợi ích giữa nhà khoa học, nhà trường và doanh nghiệp. Việc xác định quyền sở hữu và phân chia lợi ích từ kết quả nghiên cứu chưa thật sự rõ ràng, dẫn đến tâm lý e ngại trong hợp tác.
Một thách thức khác là hệ thống đánh giá và tuyển dụng trong môi trường học thuật chưa có sự đột phá để khuyến khích mạnh mẽ hoạt động nghiên cứu. Giảng dạy vẫn là nhiệm vụ chiếm nhiều thời gian nhất của giảng viên, đặc biệt với các học phần cơ bản. Trong khi đó, việc xét tuyển và thăng tiến nghề nghiệp ở nhiều trường đại học vẫn chủ yếu dựa trên số lượng bài báo khoa học, còn các đóng góp cho dự án ứng dụng hoặc giải quyết vấn đề thực tiễn chưa được đánh giá tương xứng.
Hiện, các trường đại học Việt Nam vẫn còn thiếu đội ngũ quản lý nghiên cứu chuyên nghiệp. Ở nhiều quốc gia phát triển, các chuyên gia quản lý dự án khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nhà khoa học xây dựng đề xuất, quản lý tài chính và kết nối với doanh nghiệp. Trong khi đó, tại Việt Nam, giảng viên khi làm chủ nhiệm đề tài thường phải tự đảm nhiệm hầu hết các khâu này.
“Một quốc gia muốn phát triển bền vững và tự chủ về công nghệ chiến lược không thể chỉ dựa vào việc nhập khẩu công nghệ hoặc tham gia vào các khâu gia công có giá trị gia tăng thấp. Những công nghệ mang tính nền tảng của thời đại như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ lượng tử hay vật liệu mới đều có nguồn gốc từ các nghiên cứu khoa học cơ bản được thực hiện nhiều năm trước đó.
Đối với sinh viên và giảng viên, việc tăng nguồn lực cho khoa học cơ bản mở ra nhiều cơ hội quan trọng cho sinh viên và giảng viên trong các ngành khoa học cơ bản. Khi nguồn tài trợ nghiên cứu tăng lên, các chương trình đào tạo tiến sĩ và sau tiến sĩ có thể được mở rộng cả về quy mô và chất lượng. Điều này giúp sinh viên giỏi có thể theo đuổi con đường nghiên cứu lâu dài ngay trong nước, đồng thời tạo điều kiện để các nhà khoa học trẻ được đào tạo trong môi trường học thuật đạt chuẩn quốc tế.
Bên cạnh đó, việc đầu tư mạnh cho khoa học cơ bản sẽ góp phần hình thành “hệ sinh thái nghiên cứu – đào tạo – chuyển giao tri thức” trong các trường đại học. Sinh viên không chỉ học lý thuyết mà còn có thể tham gia trực tiếp vào các nhóm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm và các dự án khoa học ngay từ bậc đại học. Giảng viên cũng có cơ hội phát triển các nhóm nghiên cứu tiềm năng/nhóm nghiên cứu mạnh và chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành các sản phẩm khoa học hoặc doanh nghiệp khoa học công nghệ”, thầy Mười chia sẻ.
Cần phát triển một số mô hình nghiên cứu mới phù hợp với xu thế quốc tế
Việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài trợ nghiên cứu theo hướng ổn định hơn cho khoa học cơ bản, đồng thời mở ra các cơ chế linh hoạt để kết nối nghiên cứu với ứng dụng được đánh giá là đúng và trúng với thực tiễn.
Theo thầy Mười, nhằm kết nối nghiên cứu với ứng dụng, nâng cao hiệu quả của đầu tư cho khoa học cơ bản, cần phát triển một số mô hình nghiên cứu mới phù hợp với xu thế quốc tế. Có thể kể đến mô hình trung tâm nghiên cứu liên ngành, nơi các nhà khoa học từ nhiều lĩnh vực khác nhau cùng hợp tác để giải quyết các vấn đề phức tạp của xã hội. Chẳng hạn, sự kết hợp giữa toán học, khoa học dữ liệu và khoa học môi trường có thể tạo ra các mô hình dự báo khí hậu hoặc tối ưu hóa quản lý tài nguyên.
Bên cạnh đó, mô hình phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đa cơ sở cũng cần được thúc đẩy, theo hướng kết nối nhiều trường đại học và viện nghiên cứu trong một mạng lưới chung. Cách tiếp cận này cho phép chia sẻ hạ tầng nghiên cứu, dữ liệu và nguồn lực con người, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách.
Ngoài ra, có thể phát triển mô hình viện nghiên cứu trong trường đại học hoạt động theo cơ chế tự chủ cao và có hội đồng khoa học quốc tế. Mô hình này đã chứng minh hiệu quả tại nhiều đại học nghiên cứu trên thế giới, góp phần thu hút các nhà khoa học xuất sắc và thúc đẩy các nghiên cứu đột phá.
Một hướng đi khác là mô hình hợp tác công – tư trong đào tạo tiến sĩ, trong đó doanh nghiệp cùng tham gia tài trợ và đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh. Cách làm này không chỉ giúp tăng nguồn lực cho đào tạo sau đại học mà còn tạo cầu nối trực tiếp giữa nghiên cứu học thuật và nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế.
Đồng thời, để tận dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho khoa học cơ bản, các trường đại học cần xây dựng chiến lược phát triển khoa học rõ ràng và dài hạn.
Mỗi trường cần xác định một số lĩnh vực nghiên cứu trọng điểm, dựa trên ba yếu tố: thế mạnh đội ngũ hiện có, nhu cầu phát triển của địa phương và xu hướng khoa học của thế giới. Việc tập trung vào một số hướng nghiên cứu mũi nhọn sẽ giúp các trường xây dựng được các nhóm nghiên cứu mạnh và tạo dấu ấn khoa học riêng.
Các trường cần chú trọng xây dựng thương hiệu nghiên cứu. Mỗi khoa hoặc nhóm nghiên cứu cần định vị rõ lĩnh vực chuyên môn của mình trên bản đồ khoa học quốc tế, thông qua các công bố khoa học chất lượng cao, các hội thảo quốc tế và các dự án hợp tác nghiên cứu.
Song, các trường cần tăng cường sự liên kết giữa các cơ sở nghiên cứu. Việc luân chuyển hoặc trao đổi nhà khoa học giữa các viện nghiên cứu và trường đại học sẽ giúp lan tỏa tri thức và hình thành các mạng lưới nghiên cứu mạnh. Ngoài ra, các trường cũng nên xây dựng mạng lưới cựu nghiên cứu sinh và cựu sinh viên quốc tế, xem đây là nguồn lực quan trọng cho hợp tác nghiên cứu và chuyển giao tri thức.
Còn theo thầy Giang, trong bối cảnh hiện nay, một số mô hình nghiên cứu cần được chú trọng phát triển là mô hình nhóm nghiên cứu mạnh trong từng lĩnh vực chuyên sâu. Khi được đầu tư tốt, các nhóm nghiên cứu này có thể tạo ra các công bố quốc tế chất lượng cao và đóng vai trò dẫn dắt các hướng nghiên cứu mới.
Ngoài ra, để nghiên cứu gắn liền với thực tế, cần phát triển các trung tâm nghiên cứu liên ngành, nơi tập hợp các nhà khoa học từ nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ mang tính phức hợp như vật liệu mới, năng lượng sạch, môi trường hay y sinh học.
Một mô hình quan trọng nữa là hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp tham gia vào quá trình nghiên cứu ngay từ đầu, khả năng chuyển hóa các kết quả nghiên cứu cơ bản thành công nghệ và sản phẩm ứng dụng sẽ cao hơn.
Đặc biệt đối với các trường đại học, khi ngân sách dành cho khoa học cơ bản được tăng cường và duy trì ổn định trong thời gian tới, sinh viên và giảng viên sẽ có thêm động lực để tham gia nghiên cứu một cách lâu dài, góp phần đáp ứng các yêu cầu phát triển của đất nước.
Trong bối cảnh đó, các trường cần xây dựng chiến lược phát triển khoa học rõ ràng và mang tính dài hạn, trong đó trọng tâm là hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh. Đây được xem là hạt nhân quan trọng để tạo ra những công trình khoa học có chất lượng cao, đồng thời nâng cao vị thế học thuật của các trường đại học Việt Nam trên bản đồ khoa học quốc tế.
Một yếu tố quan trọng nữa là gắn chặt nghiên cứu với đào tạo, đặc biệt là đào tạo sau đại học. Sinh viên và học viên cao học cần được tham gia sâu vào các nhóm nghiên cứu, các dự án khoa học để rèn luyện tư duy khoa học, năng lực sáng tạo và kỹ năng nghiên cứu.
Cuối cùng, việc mở rộng hợp tác quốc tế và tăng cường liên kết với doanh nghiệp cũng là yếu tố không thể thiếu nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu, đồng thời thúc đẩy khả năng chuyển giao và ứng dụng các kết quả khoa học vào thực tiễn.
“Tôi cho rằng nếu các yếu tố này được triển khai đồng bộ cùng với các chính sách hỗ trợ phù hợp, khoa học cơ bản tại các trường đại học Việt Nam sẽ có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn, qua đó đóng góp thiết thực cho sự phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước trong giai đoạn tới”, thầy Giang chia sẻ.
Tài liệu tham khảo:
[1]:https://mst.gov.vn/hoan-thien-co-che-tai-tro-nghien-cuu-tang-on-dinh-cho-khoa-hoc-co-ban-197260303142815827.htm