Công văn số 1212/BGDĐT-GDĐH ngày 17/3/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc khảo sát đề xuất sửa đổi, bổ sung danh mục ngành đào tạo các trình độ của giáo dục đại học đang thu hút sự quan tâm của nhiều cơ sở giáo dục đại học trên cả nước.
Theo nội dung công văn, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị các cơ sở đào tạo rà soát, báo cáo và đánh giá việc triển khai các quy định tại Thông tư số 09/2022/TT-BGDĐT ngày 06/06/2022 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Danh mục thống kê ngành đào tạo của giáo dục đại học.
Tìm hiểu của phóng viên cho thấy, hầu hết các cơ sở giáo dục đại học đã đưa ra những ý kiến đánh giá tương đối toàn diện, chỉ ra thuận lợi trong quá trình triển khai cũng như các vướng mắc phát sinh. Từ đó, nhiều đề xuất điều chỉnh, bổ sung đã được kiến nghị nhằm tháo gỡ khó khăn, bảo đảm tính linh hoạt và phù hợp hơn với thực tiễn đào tạo, nhất là sự xuất hiện của các ngành mới.
Ngành đào tạo ở một cơ sở duy nhất khó được bổ sung vào danh mục
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội chia sẻ, mỗi ngành đào tạo đều giữ một vai trò nhất định trong hệ thống giáo dục đại học, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là đào tạo nguồn nhân lực gắn với nhu cầu nghề nghiệp trong xã hội. Mối quan hệ giữa ngành đào tạo, vị trí việc làm và sự phát triển của công nghệ ngày càng chặt chẽ, đặc biệt trong những lĩnh vực như công nghiệp bán dẫn, một sản phẩm được hình thành từ sự tham gia của nhiều ngành khác nhau.
Theo thầy Trình, việc thiết kế danh mục ngành đào tạo cần được tiếp cận theo hướng hệ thống, tạo nền tảng ổn định để các cơ sở giáo dục phát triển lâu dài. Vai trò quản lý nhà nước lúc này cần mang tính kiến tạo, định hướng để các trường chủ động phát triển trên cơ sở khung chung.
“Với những ngành nghề mới xuất hiện trong xã hội, liệu chúng ta có nhất thiết phải xây dựng mã ngành đào tạo riêng, hay có thể linh hoạt triển khai dưới dạng chương trình đào tạo trong các ngành đã có. Vấn đề này cần tiếp tục được nghiên cứu, cân nhắc trong quá trình hoàn thiện chính sách, đặc biệt là điều chỉnh Thông tư số 09”, Giáo sư Trình chia sẻ.
Quy định về điều kiện bổ sung ngành mới vào Danh mục ngành đào tạo trình độ đại học theo Thông tư số 09 đang là một trong những nội dung thu hút nhiều góp ý từ các cơ sở giáo dục.
Trước hết, điểm b, khoản 1, Điều 6 Thông tư số 09 quy định một ngành đào tạo mới được xem xét bổ sung vào danh mục chính thức khi “có sự khác biệt tối thiểu 30% về kiến thức và kỹ năng chuyên môn so với các ngành hiện có trong cùng nhóm ngành dự kiến”.
Chia sẻ về quy định trên, Thầy thuốc ưu tú, Tiến sĩ, Bác sĩ Lê Viết Nho, Hiệu trưởng Trường Y Dược, Đại học Đà Nẵng bày tỏ, cách tiếp cận hiện nay được xây dựng khá chặt chẽ, góp phần bảo đảm tính khoa học và định hướng gắn với nhu cầu xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, tiêu chí “khác biệt tối thiểu 30%” cũng bộc lộ một số vướng mắc, đặc biệt với những ngành mới mang tính liên ngành, sáng tạo hoặc có sự giao thoa cao.
Do đó, để tháo gỡ khó khăn này, cơ sở giáo dục đại học đề xuất xem xét điều chỉnh linh hoạt tỷ lệ khác biệt tối thiểu về kiến thức và kỹ năng chuyên môn giữa ngành mới và các ngành đã có trong danh mục ngành nghề đào tạo. Hoặc, cơ quan quản lý có thể cân nhắc bổ sung các tiêu chí đánh giá khác, như tiềm năng phát triển của ngành và nhu cầu thực tiễn của xã hội, thay vì chỉ dựa vào mức độ khác biệt so với các ngành hiện có trong danh mục.
Cùng bàn đến quy định về điều kiện bổ sung ngành mới vào danh mục ngành đào tạo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quang Tiến – Giám đốc Học viện Phụ nữ Việt Nam cho biết, Thông tư số 09 quy định một trong những điều kiện để ngành đào tạo mới được xem xét bổ sung vào một nhóm ngành cụ thể trong Danh mục ngành chính thức là: “Đã được phát triển chương trình, tổ chức đào tạo, đánh giá và công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng kiểm định chương trình tại ít nhất hai cơ sở đào tạo trong nước và được các cơ sở đào tạo đó cùng đề xuất bổ sung vào Danh mục” (theo điểm đ, khoản 1, Điều 6 của Thông tư số 09).
Theo Giáo sư Trần Quang Tiến, các nội dung, tiêu chuẩn, tiêu chí để một ngành mới được bổ sung vào danh mục các ngành chính thức được quy định rõ ràng. Tuy nhiên, quy định một ngành mới được bổ sung vào danh mục ngành chính thức phải được đánh giá và công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng kiểm định chất lượng chương trình đào tạo tại ít nhất hai cơ sở đào tạo trong nước và được các cơ sở đào tạo đó cùng đề xuất bổ sung vào Danh mục là khó thực hiện đối với Học viện Phụ nữ Việt Nam. Bởi, ngành Giới và Phát triển của học viện là ngành đặc thù, được đào tạo duy nhất tại học viện, và cũng là cơ sở giáo dục đặc thù về bình đẳng giới.
Chính vì thế, Giáo sư Tiến đề xuất, bổ sung vào điểm đ, khoản 1, Điều 6 như sau: Riêng đối với các ngành đặc thù đã được phát triển chương trình, tổ chức đào tạo, đánh giá và công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng kiểm định chương trình được cơ sở đào tạo đó đề xuất bổ sung vào Danh mục.
Đề xuất có thêm hướng dẫn để thực hiện thống nhất
Theo tìm hiểu, tại Phụ lục I, Phần I (Danh mục thống kê các ngành đào tạo trình độ đại học) Thông tư số 09, hiện nay ngành Giới và Phát triển chưa có mã ngành chính thức, trong khi Học viện Phụ nữ Việt Nam đã đào tạo được 9 khóa sinh viên ngành này ra trường.
“Ngành Giới và Phát triển của học viện được phép đào tạo từ năm học 2015-2016, với 9 khóa cử nhân Giới và Phát triển tốt nghiệp và sắp tới đây là khóa thứ 10. Thế nhưng, đến nay ngành Giới và Phát triển vẫn chưa được cấp mã ngành, chưa có tên trong danh mục ngành đào tạo chính thức tại Thông tư số 09”, thầy Tiến chia sẻ.
Được biết, theo Quyết định số 1596/QĐ-BGDĐT ngày 07/06/2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về danh mục ngành đào tạo thí điểm các trình độ của giáo dục đại học, ngành Giới và Phát triển có mã ngành thí điểm trình độ đại học là 7310399 (nằm trong nhóm ngành Xã hội học và Nhân học).
Giám đốc Học viện Phụ nữ Việt Nam nhấn mạnh, Giới và Phát triển là ngành đào tạo mang tính đặc thù, có nhiều điểm tương đồng nhưng vẫn có sự khác biệt rõ rệt so với Xã hội học và Nhân học. Tuy nhiên, việc chưa được cấp mã ngành chính thức trong thời gian dài đã gây không ít khó khăn cho học viện, nhất là trong công tác tuyển sinh và định hướng phát triển đào tạo ở trình độ sau đại học nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
Do vậy, Giáo sư Tiến đề xuất xem xét đưa ngành Giới và Phát triển (hiện đang ở mã ngành thí điểm 7310399) vào danh mục ngành đào tạo chính thức, thuộc nhóm mã ngành 73103 cùng với Xã hội học và Nhân học. Việc công nhận mã ngành chính thức được kỳ vọng sẽ tạo thuận lợi hơn cho các cơ sở đào tạo trong tổ chức giảng dạy, đồng thời góp phần cung cấp nguồn nhân lực phục vụ mục tiêu thúc đẩy bình đẳng giới và phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, theo thầy Tiến, cần tiếp tục duy trì danh mục ngành thí điểm như một cơ chế linh hoạt trong quản lý đào tạo. Cách làm này cho phép một số ngành đặc thù có cơ hội được triển khai, kiểm chứng hiệu quả trong thực tiễn trước khi được xem xét bổ sung vào danh mục ngành chính thức với mã ngành riêng.
Liên quan đến quy định về việc phân loại, sắp xếp chương trình và ngành đào tạo theo danh mục (Điều 5, Thông tư số 09), Tiến sĩ Lê Viết Nho cho rằng, quy định này tại Thông tư số 09 đã giúp phân loại ngành đào tạo vào nhóm ngành cụ thể dựa trên nguồn gốc và phần chung về kiến thức, kỹ năng, là cơ sở tốt để bảo đảm tính khoa học và thống nhất trong danh mục ngành đào tạo.
Tuy nhiên, việc thực hiện quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 5: “Trong trường hợp đặc biệt, một ngành đào tạo mang tính liên ngành có thể được sắp xếp đồng thời vào một số nhóm ngành khi có nguồn gốc phát triển từ lai ghép một số ngành thuộc các nhóm ngành đó, đồng thời có phần chung về kiến thức và kỹ năng chuyên môn với các ngành đó tương đương nhau” cũng có một số vướng mắc.
Cụ thể, những ngành có nguồn gốc liên ngành, từ nhiều lĩnh vực và có phần kiến thức, kỹ năng tương đồng có thể được xếp vào nhiều nhóm khác nhau. Dù tạo ra độ mở cần thiết nhưng quy định này cũng khiến các cơ sở đào tạo gặp lúng túng, thậm chí dẫn đến nguy cơ chồng chéo trong phân loại.
Do đó, quy định này cần tiếp tục cụ thể hóa hướng dẫn thực hiện, đặc biệt là làm rõ tiêu chí đánh giá mức độ tương đồng về kiến thức và kỹ năng chuyên môn đối với các ngành liên ngành. Từ đó, nhằm giảm bớt tính định tính, tránh cách hiểu khác nhau giữa các cơ sở đào tạo và bảo đảm sự thống nhất trong quá trình áp dụng.