Có độ vênh giữa quảng bá và thực tế đào tạo liên kết quốc tế của trường CĐ: Chuyên gia kiến nghị

18/04/2026 06:33
Trần Trang

GDVN -Theo chuyên gia, những chương trình đào tạo cần được công khai, minh bạch về thông tin nhằm bảo đảm quyền lợi người học.

Thời gian gần đây, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam liên tục nhận được băn khoăn của độc giả về việc một số trường cao đẳng quảng bá học xong được nhận bằng quốc tế, song bằng... Ngay sau đó, phóng viên liên hệ với cơ sở đào tạo và được cho biết các chương trình này được giảng dạy chủ yếu bằng tiếng Việt và không cấp bằng quốc tế như thông tin trên website của nhà trường.

Trước thực trạng trên, nhiều chuyên gia cho rằng cần tăng cường giám sát việc công khai, minh bạch thông tin tuyển sinh chương trình hợp tác, liên kết quốc tế tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Nhiều hệ lụy khi “liên kết quốc tế” bị quảng bá tùy tiện

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục Chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo) khẳng định khái niệm “song bằng” không thể được sử dụng một cách tùy tiện.

Một chương trình được coi là có yếu tố nước ngoài phải thể hiện rõ ở nhiều khía cạnh: chương trình đào tạo được chuyển giao hoặc đồng xây dựng; đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu chuyên môn và ngoại ngữ; phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá theo chuẩn quốc tế; và đặc biệt là văn bằng có giá trị pháp lý rõ ràng.

Điều này đồng nghĩa với việc chương trình phải được xây dựng theo chuẩn quốc tế, có nội dung giảng dạy bằng ngoại ngữ ở một số học phần, có sự tham gia của giảng viên nước ngoài hoặc giảng viên đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, và tuân thủ quy trình đào tạo, đánh giá theo yêu cầu của đối tác nước ngoài. Nếu không đủ điều kiện nhưng vẫn quảng cáo là “song bằng”, thì đó là cách hiểu sai, thậm chí có thể xem là hành vi lừa dối người học.

Thực tế có những trường hợp lợi dụng danh nghĩa “liên kết quốc tế” để nâng mức học phí hoặc tạo cảm giác “giá trị gia tăng” cho chương trình đào tạo, trong khi người học không thực sự được hưởng lợi ích tương xứng. Bản chất của những chương trình này không phải là cung cấp cơ hội học tập quốc tế thực chất, mà là tận dụng kỳ vọng của phụ huynh và học sinh để thu hút tuyển sinh.

image.jpg
Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo). Ảnh: NVCC.

“Nếu không được kiểm soát, những biểu hiện này không chỉ làm sai lệch bản chất của các chương trình hợp tác quốc tế, liên kết quốc tế mà còn có thể tạo ra môi trường giáo dục thiếu minh bạch, nơi người học phải trả chi phí cao nhưng không nhận được giá trị tương xứng” – ông Vinh chia sẻ.

Cùng bàn luận về chủ đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An - Đại biểu Quốc hội khóa XIII khẳng định đối với các chương trình đào tạo có yếu tố quốc tế, điều quan trọng hàng đầu là phải làm rõ và minh bạch những thông tin cốt lõi liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người học.

Cụ thể, học sinh và phụ huynh cần được biết rõ sau khi tốt nghiệp sẽ nhận được loại bằng cấp nào, chứng chỉ do đơn vị nào cấp, có được công nhận ở nước sở tại hay không, chất lượng đào tạo ra sao và cơ hội việc làm sau đó như thế nào. Nếu những thông tin này không được công bố đầy đủ và chính xác, rất dễ dẫn đến hiểu nhầm, khiến người học lựa chọn sai chương trình.

image-24.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An - Đại biểu Quốc hội khoá XIII. Ảnh: M.T.

Bà An nhấn mạnh rằng, mọi nội dung quảng cáo liên quan đến chương trình “có yếu tố quốc tế” phải đảm bảo tính trung thực, minh bạch và cần được kiểm soát chặt chẽ. Thực tế cho thấy, chỉ cần gắn yếu tố “quốc tế” là nhiều người đã mặc nhiên hiểu đó là chương trình có bằng cấp quốc tế, trong khi điều này không phải lúc nào cũng đúng. Chính sự nhập nhằng trong cách quảng bá đã khiến không ít học sinh, phụ huynh rơi vào tình trạng “chọn nhầm”, kéo theo những rủi ro về tài chính và cơ hội nghề nghiệp.

Theo Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng, những mô hình đào tạo “liên kết quốc tế” nhưng không đảm bảo các yếu tố cốt lõi của một chương trình quốc tế thực chất đã tác động đa chiều đến quyền lợi người học, cả ở góc độ pháp lý, kinh tế và tâm lý xã hội.

“Trước hết, về nguyên tắc, quyền của người học bao gồm quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, chính xác và quyền được thụ hưởng chất lượng đào tạo tương xứng với cam kết. Khi một chương trình được quảng bá là “quốc tế”, người học mặc nhiên hình thành kỳ vọng về ít nhất ba yếu tố: chuẩn chương trình hoặc chuẩn đầu ra có tham chiếu quốc tế; môi trường học tập, đặc biệt là ngôn ngữ giảng dạy và phương pháp đào tạo; giá trị văn bằng hoặc khả năng chuyển tiếp quốc tế. Nếu cả ba yếu tố này không được đảm bảo, thì bản chất đã có sự sai lệch giữa “thông tin cung cấp” và “dịch vụ thực nhận” – đây là dấu hiệu điển hình của hành vi cung cấp thông tin gây nhầm lẫn trong thị trường dịch vụ giáo dục.

Về mặt kinh tế học giáo dục, đây là một dạng bất cân xứng thông tin, trong đó cơ sở đào tạo nắm nhiều thông tin của người học và có thể khai thác sự thiếu hụt thông tin của người học để tối đa hóa tuyển sinh. Khi bất cân xứng thông tin không được kiểm soát, thị trường dễ rơi vào tình trạng “lựa chọn đối nghịch” (adverse selection), tức là các chương trình chất lượng thấp nhưng quảng bá tốt lại thu hút người học nhiều hơn, trong khi các chương trình chất lượng cao nhưng truyền thông trung thực lại bị lép vế. Hệ quả dài hạn là làm suy giảm chất lượng chung của hệ thống giáo dục nghề nghiệp.

Ngoài ra, cần nhìn nhận tác động ở góc độ chi phí cơ hội. Người học không chỉ mất chi phí học phí mà còn mất thời gian, cơ hội lựa chọn các chương trình phù hợp hơn hoặc cơ hội gia nhập thị trường lao động sớm hơn. Trong bối cảnh giáo dục nghề nghiệp gắn chặt với nhu cầu việc làm, sự sai lệch này có thể dẫn đến “lệch pha kỹ năng”, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động và khả năng cạnh tranh của người học sau tốt nghiệp.

Cuối cùng, về mặt xã hội, nếu tình trạng này kéo dài, niềm tin của người học và phụ huynh vào các chương trình có yếu tố quốc tế sẽ bị xói mòn. Khi niềm tin bị suy giảm, ngay cả những mô hình liên kết quốc tế thực chất cũng sẽ bị ảnh hưởng, gây tổn hại đến quá trình hội nhập giáo dục một cách tổng thể” – Đại biểu Tú Anh cho hay.

chi-tu-anh-gui.jpg
Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: NVCC.

Cơ sở đào tạo cần nghiêm túc thực hiện công khai minh bạch

Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh so sánh hành vi quảng cáo không đúng sự thật trong giáo dục với việc quảng cáo và kinh doanh hàng giả trên thị trường. Nếu như trong lĩnh vực tiêu dùng, việc quảng cáo sản phẩm (thuốc, mỹ phẩm) không đúng chất lượng sẽ bị xử lý nghiêm vì gây thiệt hại trực tiếp đến sức khỏe và quyền lợi người tiêu dùng, thì trong giáo dục, hậu quả thậm chí còn nghiêm trọng hơn. Bởi lẽ, người học không chỉ mất tiền mà còn mất thời gian, cơ hội học tập và phát triển nghề nghiệp.

Do đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ quan quản lý tại địa phương cần chủ động rà soát, kiểm tra nội dung quảng cáo của các đơn vị giáo dục, nhất là những chương trình có yếu tố quốc tế, để kịp thời phát hiện và xử lý sai phạm. Công khai không chỉ là đăng tải thông tin, mà phải đảm bảo thông tin đó đầy đủ, chính xác và có thể kiểm chứng. Nếu thông tin tuyển sinh thiếu minh bạch hoặc gây hiểu nhầm, thì dù có công bố công khai cũng không mang lại giá trị thực, thậm chí còn gây rủi ro cho người học.

Về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An cho rằng cần siết chặt quản lý đối với các chương trình đào tạo có yếu tố nước ngoài, đặc biệt là trong hoạt động quảng cáo và tuyển sinh.

Thứ nhất là tính pháp lý của đối tác liên kết: đối tác đó là ai, có tư cách pháp nhân, trụ sở, hoạt động trong lĩnh vực gì và mối liên kết với cơ sở đào tạo tại Việt Nam có đúng như công bố hay không.

Thứ hai là chất lượng đào tạo và giá trị của văn bằng, chứng chỉ. Cần làm rõ chương trình đào tạo thuộc loại nào, chuẩn đầu ra ra sao, chứng chỉ hoặc bằng cấp sau khi tốt nghiệp có giá trị ra sao, có thể liên thông hoặc chuyển đổi hay không. Nếu những yếu tố này không được kiểm chứng kỹ lưỡng, rủi ro sẽ dồn về phía người học.

Việc kiểm tra cần được thực hiện ngay từ đầu, trước khi cho phép triển khai tuyển sinh và đào tạo, tránh tình trạng để các chương trình “tung ra” thị trường một cách thiếu kiểm soát. Nếu buông lỏng quản lý, hậu quả không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo mà còn gây thiệt hại trực tiếp về thời gian, chi phí của người học, thậm chí dẫn đến tình trạng học xong nhưng không không đáp ứng được yêu cầu việc làm.

Mới đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố dự thảo Thông tư ban hành Quy chế tuyển sinh trong giáo dục nghề nghiệp để lấy ý kiến góp ý rộng rãi của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Điều 5, dự thảo Thông tư quy định báo cáo, thông tin tuyển sinh như sau:

Cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải báo cáo số lượng tuyển sinh từng năm được xác định theo từng nhóm ngành, nhóm nghề và trình độ đào tạo của cơ sở mình với Sở Giáo dục và Đào tạo tại địa phương nơi đặt trụ sở chính và cơ quan chủ quản trước ngày 15 tháng 01 hàng năm.

Đồng thời, thực hiện thông tin trên cổng thông tin điện tử của cơ sở và các phương tiện truyền thông khác, cũng như chịu trách nhiệm giải trình với người học và cơ quan quản lý nhà nước về các nội dung tuyển sinh bao gồm: Giới thiệu về cơ sở đào tạo, các chương trình đào tạo, thời gian khóa học, địa điểm học tập, kết quả kiểm định chất lượng cơ sở (nếu có); Thông tin về mức thu học phí đối với từng ngành, nghề đào tạo; các khoản thu dịch vụ khác cho từng năm học và cả khóa học; chính sách học bổng, miễn giảm, hỗ trợ học phí; điều kiện học tập, ký túc xá và các chính sách hỗ trợ khác dành cho người học; Kế hoạch, phạm vi và các đợt tuyển sinh trong năm; đối tượng, điều kiện, chuẩn đầu vào và hình thức tuyển sinh đối với từng nhóm ngành, nghề và trình độ đào tạo.

Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh bày tỏ, yêu cầu công khai thông tin tuyển sinh và trách nhiệm giải trình có thể xem là một công cụ điều tiết quan trọng nhằm khắc phục chính tình trạng bất cân xứng thông tin.

Về bản chất, minh bạch thông tin không chỉ là yêu cầu hành chính mà là một cơ chế thị trường để thiết lập lại sự cân bằng giữa bên cung và bên cầu. Khi các cơ sở đào tạo buộc phải công khai các thông tin cốt lõi như: nội dung chương trình, chuẩn đầu ra, tỷ lệ giảng dạy bằng ngoại ngữ, đối tác quốc tế, điều kiện cấp bằng, tỷ lệ sinh viên có việc làm…, thì người học có thể lựa chọn dựa trên dữ liệu thay vì cảm tính hoặc quảng cáo. Đây chính là nền tảng để hình thành một thị trường giáo dục cạnh tranh lành mạnh dựa trên chất lượng thực.

Ở góc độ quản trị công, quy định về trách nhiệm giải trình tạo ra sự chuyển dịch từ mô hình “tiền kiểm” sang “hậu kiểm có điều kiện”. Nghĩa là Nhà nước không can thiệp quá sâu vào quyền tự chủ của cơ sở đào tạo trong thiết kế chương trình, nhưng yêu cầu nhà trường phải chịu trách nhiệm về kết quả và cam kết của mình. Khi gắn minh bạch với giải trình, mỗi thông tin công bố không còn là “tuyên bố một chiều” mà trở thành một cam kết có thể bị kiểm chứng và truy trách nhiệm.

“Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số, việc công khai trên cổng thông tin điện tử còn tạo điều kiện để chuẩn hóa dữ liệu và tiến tới xây dựng các hệ thống so sánh, xếp hạng hoặc cảnh báo rủi ro cho người học. Khi đó, minh bạch không chỉ dừng ở việc có thông tin, mà còn tiến tới thông tin có thể phân tích và sử dụng được” – Đại biểu Quốc hội Tú Anh bày tỏ.

Bên cạnh đó, để xử lý tình trạng quảng bá không đúng thực tế hoặc gây hiểu nhầm, Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh cho rằng cần tiếp cận theo hướng thiết kế một hệ sinh thái giám sát đa tầng, kết hợp giữa quy định pháp lý, cơ chế thị trường và sự tham gia của xã hội.

Về cơ chế giám sát, cần tăng cường hậu kiểm theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, dựa trên phân tích rủi ro. Ví dụ, các chương trình có học phí cao, có yếu tố nước ngoài hoặc có tỷ lệ quảng cáo lớn cần được đưa vào diện giám sát thường xuyên hơn. Đồng thời, cần tận dụng công nghệ để theo dõi nội dung quảng cáo trên các nền tảng số – nơi mà nhiều thông tin dễ bị “thổi phồng” nhất.

Về chế tài, cần thiết kế theo nguyên tắc “tương xứng và đủ sức răn đe”. Nếu mức phạt thấp hơn lợi ích thu được từ việc quảng cáo sai lệch, thì vi phạm sẽ tiếp tục tái diễn.

Do đó, ngoài xử phạt hành chính, cần áp dụng các biện pháp bổ sung như: buộc cải chính thông tin công khai, hoàn trả chi phí cho người học bị ảnh hưởng, tạm dừng hoặc đình chỉ tuyển sinh đối với chương trình vi phạm. Trong trường hợp nghiêm trọng, có thể xem xét trách nhiệm pháp lý cao hơn nếu có dấu hiệu lừa dối có hệ thống.

Thứ ba, cần phát huy vai trò của người học và xã hội như một kênh giám sát độc lập. Việc thiết lập các kênh tiếp nhận phản ánh, khiếu nại minh bạch và dễ tiếp cận sẽ giúp phát hiện sớm các hành vi sai phạm. Khi người học có thể phản ánh và được bảo vệ, họ sẽ trở thành một “tác nhân kiểm soát” hiệu quả trong hệ thống.

Cuối cùng, cần nhấn mạnh rằng mục tiêu không chỉ là xử phạt, mà là thiết lập lại chuẩn mực của thị trường giáo dục. Khi minh bạch trở thành yêu cầu bắt buộc, giải trình trở thành thói quen, và vi phạm bị xử lý nghiêm minh, thì các cơ sở đào tạo sẽ có động lực chuyển từ cạnh tranh bằng quảng cáo sang cạnh tranh bằng chất lượng thực – đó mới là giải pháp bền vững để bảo vệ quyền lợi người học.

Trần Trang