Quyết định số 452/QĐ-TTg ngày 27/2/2025 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 cùng với Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày 10/2/2023 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là một chủ trương lớn, nhằm mở rộng không gian phát triển và nâng cao năng lực cho các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.
Thực hiện chủ trương sắp xếp, tái cấu trúc, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo được phân công xây dựng 2 đề án về vấn đề này; và sẽ trình Thủ tướng Chính phủ quyết định, triển khai ngay trong năm 2026. [1]
Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến tháng 9/2025, cả nước có 238 cơ sở giáo dục đại học; 20 trường cao đẳng sư phạm.
Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học cần phân tầng, phân loại nhưng vẫn bảo đảm linh hoạt
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga - Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hải Phòng khẳng định, việc quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học theo tinh thần Quyết định số 452/QĐ-TTg không đơn thuần là một điều chỉnh kỹ thuật. Đây là một bước tái cấu trúc hệ thống có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới: phát triển dựa trên tri thức, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, nhìn thẳng vào thực tế, hệ thống giáo dục đại học đã có bước phát triển mạnh mẽ về quy mô trong hơn hai thập niên qua. Tuy nhiên, cùng với sự mở rộng đó cũng bộc lộ không ít bất cập.
“Trước hết là tình trạng phát triển dàn trải và trùng lặp ngành nghề đào tạo. Ở một số địa phương, có nhiều cơ sở đào tạo cùng nhóm ngành kinh tế, quản trị, tài chính, trong khi các ngành kỹ thuật công nghệ cao, công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng mới… lại chưa được đầu tư tương xứng.
Việc “đua nhau mở ngành” trong một giai đoạn nhất định đã dẫn đến phân tán nguồn lực, làm giảm hiệu quả đầu tư công và khó tạo ra những trung tâm đào tạo có chiều sâu.
Thứ hai là quy mô nhỏ, manh mún ở nhiều cơ sở đào tạo. Không ít trường có số lượng sinh viên hạn chế, đội ngũ giảng viên cơ hữu mỏng, cơ sở vật chất chưa đạt chuẩn, nhưng vẫn tồn tại độc lập. Điều này khiến việc đầu tư chiều sâu cho nghiên cứu, phòng thí nghiệm, chuyển giao công nghệ gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, trên thế giới, xu hướng hiện nay là hình thành các đại học đa ngành, đa lĩnh vực, quy mô đủ lớn để tạo sức mạnh tổng hợp.
Thứ ba, chất lượng chưa đồng đều giữa các vùng, miền. Các trung tâm lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng tập trung nhiều trường mạnh, trong khi một số địa phương khác thiếu vắng cơ sở đào tạo chất lượng cao. Điều này không chỉ tạo áp lực di cư học tập, mà còn ảnh hưởng đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực tại chỗ của các địa phương.
Thứ tư là chưa xác định rõ định vị và sứ mệnh của từng cơ sở. Không ít trường đại học vẫn đang “ở giữa” các mô hình: vừa muốn làm nghiên cứu, vừa muốn đào tạo ứng dụng, nhưng nguồn lực không đủ để phát triển đồng thời cả hai. Việc thiếu phân tầng rõ ràng dẫn đến khó khăn trong hoạch định chính sách đầu tư và cơ chế tài chính phù hợp.
Vì vậy, tôi cho rằng quy hoạch lần này cần ưu tiên giải quyết đồng thời bốn vấn đề: tái cơ cấu ngành nghề đào tạo, sắp xếp lại các cơ sở quy mô nhỏ, thu hẹp khoảng cách vùng miền và xác định rõ vai trò của từng cơ sở trong tổng thể hệ thống”, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hải Phòng nhấn mạnh.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga cũng kỳ vọng quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học sẽ được thiết kế theo hướng phân tầng, phân loại rõ ràng, khoa học nhưng vẫn bảo đảm tính linh hoạt và mở.
Theo đó, việc phân tầng là cần thiết để mỗi cơ sở đào tạo xác định đúng vị trí và vai trò trong hệ sinh thái giáo dục đại học, từ các trường định hướng nghiên cứu, tập trung đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, công bố quốc tế và dẫn dắt đổi mới sáng tạo; các trường định hướng ứng dụng, gắn chặt với doanh nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh; đến những cơ sở chuyên trách đào tạo giáo viên, giữ vai trò then chốt trong phát triển giáo dục phổ thông.
Tuy nhiên, vị đại biểu nhấn mạnh, phân tầng không nên bị hiểu như việc tạo ra những “đẳng cấp hành chính” cố định, mà hệ thống cần được thiết kế theo hướng mở, tạo điều kiện để các trường phát triển, chuyển đổi mô hình khi đáp ứng đủ điều kiện, qua đó hình thành động lực nâng cao chất lượng toàn diện.
Cùng với đó, quy hoạch cần hướng tới xây dựng các đại học vùng và cụm đại học liên kết mạnh, thúc đẩy chia sẻ cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, thư viện số và nguồn nhân lực chất lượng cao, nhằm tối ưu hóa đầu tư và nâng cao hiệu quả nghiên cứu.
Đặc biệt, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hải Phòng kỳ vọng quy hoạch sẽ chú trọng phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo trong trường đại học, nơi kết nối chặt chẽ giữa nghiên cứu, khởi nghiệp và doanh nghiệp, để đại học thực sự trở thành hạt nhân của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, vượt ra khỏi khuôn khổ đào tạo truyền thống.
Cùng chia sẻ về vấn đề này, theo Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng, việc sắp xếp, tái cấu trúc cơ sở giáo dục đại học cần chú trọng đến yếu tố chất lượng đào tạo chưa đồng đều giữa các cơ sở, giữa các vùng miền.
Một số trường đạt chuẩn quốc tế, nhưng nhiều cơ sở khác còn yếu về đội ngũ giảng viên, chương trình học, và kiểm định chất lượng. Quy hoạch phải nhấn mạnh việc nâng cao tiêu chuẩn chung, tăng cường kiểm tra giám sát, hỗ trợ đào tạo giảng viên, và khuyến khích hợp tác công tư để đảm bảo bình đẳng và hiệu quả.
Việc quy hoạch lại mạng lưới cần hướng tới tinh gọn, hiệu quả, với trọng tâm giải quyết các bất cập trên để thực hiện thành công tầm nhìn đến năm 2050: một hệ thống giáo dục đại học đạt trình độ tiên tiến thế giới, góp phần xây dựng Việt Nam hùng cường.
Sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở là động lực quan trọng để hiện đại hóa giáo dục đại học
Theo Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh, việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học trong quy hoạch mạng lưới là giải pháp chiến lược then chốt nhằm khắc phục tình trạng dàn trải, trùng lặp và hiệu quả còn hạn chế của hệ thống hiện nay.
Cụ thể, việc liên kết sẽ tạo điều kiện hình thành các trung tâm đại học lớn, thúc đẩy chia sẻ nguồn lực, phát triển nghiên cứu liên ngành và tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực đổi mới sáng tạo.
Trong khi đó, việc hợp nhất và sáp nhập, đặc biệt đối với các cơ sở nhỏ lẻ hoặc hoạt động kém hiệu quả, sẽ góp phần tinh gọn bộ máy, giảm số lượng đầu mối quản lý, gia tăng quy mô đào tạo và nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế.
Những giải pháp này không chỉ giúp tiết kiệm ngân sách nhà nước mà còn bảo đảm phân bổ nguồn lực hợp lý theo vùng miền, gắn chặt với nhu cầu phát triển nhân lực quốc gia, hướng tới hình thành các đại học quốc gia, đại học vùng và trọng điểm tại Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ, qua đó hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 đạt quy mô 3-3,2 triệu người học, với tỷ lệ giáo dục STEM khoảng 35%, và tầm nhìn đến năm 2050 xây dựng hệ thống giáo dục đại học đạt chuẩn quốc tế.
“Dù vậy, theo tôi, quá trình sắp xếp, tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học cần đáp ứng nhiều điều kiện quan trọng để diễn ra hiệu quả, thực chất, tránh hình thức và hạn chế tối đa những xáo trộn không cần thiết.
Trước hết, phải tiến hành đánh giá toàn diện, khoa học hiện trạng các cơ sở đào tạo dựa trên những tiêu chí rõ ràng như chất lượng đào tạo, hiệu quả nghiên cứu, quy mô và mức độ đóng góp cho địa phương, đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia kết nối đồng bộ để phục vụ công tác dự báo và ra quyết định.
Song song với đó, việc bảo đảm đầy đủ quyền lợi hợp pháp của đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và sinh viên cần được đặt lên hàng đầu thông qua các phương án chuyển tiếp minh bạch, lộ trình đào tạo bồi dưỡng phù hợp và cơ chế tham vấn rộng rãi nhằm tạo sự đồng thuận xã hội.
Ngoài ra, quá trình sắp xếp lại mạng lưới chỉ có thể thành công khi đi kèm các cơ chế hỗ trợ mạnh mẽ về tài chính, pháp lý và hạ tầng, bao gồm hoàn thiện khung pháp luật về tự chủ đại học, ưu đãi về đất đai, tín dụng, thuế, cũng như huy động đa dạng nguồn lực để đầu tư cơ sở vật chất, tiến tới chuẩn hóa hệ thống và giảm áp lực đô thị tại các thành phố lớn.
Cuối cùng, việc thiết lập cơ chế giám sát, đánh giá định kỳ, chặt chẽ với sự tham gia của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các địa phương, kèm theo công bố công khai kết quả hằng năm, sẽ bảo đảm tính minh bạch và kịp thời điều chỉnh chính sách.
Đây không chỉ là giải pháp tổ chức lại hệ thống, mà còn là động lực quan trọng để hiện đại hóa giáo dục đại học, góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia sáng tạo hàng đầu trong khu vực”, vị Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng nhấn mạnh.
Trong khi đó, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, để quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học không chỉ dừng ở việc sắp xếp lại về mặt tổ chức mà thực sự tạo chuyển biến về chất lượng, cần triển khai đồng bộ một số chính sách then chốt.
Đầu tiên, Nhà nước phải thực hiện đầu tư có trọng điểm, tập trung nguồn lực cho một số đại học mũi nhọn có tiềm năng vươn tầm khu vực và quốc tế, bởi đầu tư dàn trải khó tạo ra đột phá. Cùng với đó, việc phát triển đội ngũ giảng viên và nhà khoa học giữ vai trò quyết định, đòi hỏi các chính sách đủ mạnh để thu hút chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và xây dựng cơ chế đãi ngộ có sức cạnh tranh.
Tiếp đến, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tự chủ đại học gắn chặt với trách nhiệm giải trình, bảo đảm các trường được linh hoạt trong quản trị nhưng vẫn đặt dưới hệ thống kiểm định, giám sát chất lượng nghiêm túc.
Bên cạnh đó, việc mở rộng cơ chế đặt hàng đào tạo đối với các ngành, lĩnh vực chiến lược sẽ giúp các cơ sở giáo dục đại học có định hướng phát triển rõ ràng, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế - xã hội.
Không những vậy, cần tăng cường hệ thống kiểm định và xếp hạng minh bạch, làm cơ sở để xã hội giám sát và người học có đầy đủ thông tin khi lựa chọn.
“Tôi tin rằng nếu Quyết định 452/QĐ-TTg được triển khai với quyết tâm cao, cơ chế thực thi đồng bộ và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và các cơ sở giáo dục đại học, thì đây sẽ là một bước ngoặt quan trọng.
Quy hoạch không chỉ là sự sắp xếp lại mạng lưới, mà là quá trình tái định vị vai trò của giáo dục đại học trong chiến lược phát triển quốc gia. Giáo dục đại học phải trở thành nền tảng của đổi mới sáng tạo, là nơi ươm mầm nhân tài và kiến tạo tương lai đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới”, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hải Phòng khẳng định.
Tài liệu tham khảo:
[1] https://nhandan.vn/bo-giao-duc-va-dao-tao-thong-tin-ve-sap-xep-sap-nhap-cac-co-so-giao-duc-dai-hoc-co-so-giao-duc-nghe-nghiep-post913103.html
