CSGDĐH phải trích tối thiểu 5-8% nguồn thu học phí cho KHCN: Làm sao để sử dụng hiệu quả?

24/04/2026 06:30
Thúy Hiền

GDVN - Theo lãnh đạo CSGDĐH, thách thức khi trích nguồn thu từ học phí cho khoa học không chỉ là áp lực tài chính mà còn là năng lực sử dụng nguồn lực hiệu quả.

Nghị định số 125/2026/NĐ-CP về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học được ban hành với nhiều điểm mới đáng chú ý. Theo đó, các cơ sở giáo dục đại học phải trích tối thiểu 8% nguồn thu học phí (đối với đại học) và 5% (đối với các cơ sở giáo dục đại học khác) để đầu tư cho lĩnh vực này. Đồng thời, các cơ sở giáo dục được phép thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, tham gia thực hiện nhiệm vụ khoa học theo cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc tài trợ, bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch.

Lãnh đạo nhiều cơ sở giáo dục đại học đánh giá, quy định về tỷ lệ trích lập từ nguồn thu học phí được kỳ vọng sẽ tạo nguồn lực ổn định, giúp các trường chủ động hơn trong đầu tư nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả, cần có hướng dẫn cụ thể cũng như tăng tính linh hoạt trong triển khai nhiệm vụ khoa học, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng cơ sở.

Áp lực không chỉ ở tài chính mà ở bài toán sử dụng nguồn lực hiệu quả

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Hồng Hải - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, quy định phải trích nguồn thu học phí để đầu tư cho hoạt động khoa học công nghệ tạo ra áp lực không nhỏ đối với các cơ sở giáo dục đại học. Đặc biệt đối với các trường đang thực hiện tự chủ khi nguồn thu vẫn phụ thuộc lớn vào học phí và phải gánh nhiều chi phí thường xuyên.

Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi không nằm ở việc “có bao nhiêu tiền” mà ở khả năng sử dụng nguồn lực hiệu quả. Nếu thiếu cơ chế lựa chọn và giám sát phù hợp, nguy cơ đầu tư dàn trải, thiếu trọng tâm, thậm chí chạy theo hình thức là rất rõ ràng.

Để bảo đảm đồng vốn được sử dụng “đúng và trúng”, cần tập trung vào ba nguyên tắc gồm: ưu tiên theo chiến lược, chỉ chọn một số lĩnh vực mũi nhọn để đầu tư; gắn chặt với đầu ra đo đếm được như công bố chất lượng cao, sở hữu trí tuệ hay sản phẩm chuyển giao; thiết lập cơ chế cạnh tranh nội bộ minh bạch, dựa trên năng lực và kết quả của các nhóm nghiên cứu.

Nếu triển khai bài bản, quy định này không chỉ dừng ở áp lực tài chính mà còn có thể trở thành đòn bẩy quan trọng, thúc đẩy tái cấu trúc và nâng cao chất lượng hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học.

pgs-ts-phan-hong-hai.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Hồng Hải - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NTCC.

Đi cùng với các cơ chế hỗ trợ, trong bối cảnh gia tăng đầu tư và mở rộng tự chủ, theo thầy Hải, yêu cầu về liêm chính khoa học và trách nhiệm giải trình cần được đặt ở vị trí trung tâm. Cơ chế giám sát nên được thiết kế theo hướng kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát đầu vào và đánh giá đầu ra, trong đó trọng tâm là minh bạch hóa toàn bộ quá trình nghiên cứu và sử dụng kinh phí. Việc công khai thông tin về công bố, trích dẫn và các cảnh báo liên quan đến liêm chính khoa học cần được tích hợp vào hệ thống quản lý nội bộ để theo dõi thường xuyên và kịp thời phát hiện rủi ro.

Đối với các vi phạm như công bố không trung thực, bị rút bài báo hoặc sai phạm đạo đức nghiên cứu, cần áp dụng chế tài đủ sức răn đe như thu hồi kinh phí; hạ bậc hoặc tạm dừng công nhận nhóm nghiên cứu; hạn chế tham gia đề tài, xét duyệt trong một thời gian nhất định. Song song với đó, cần chú trọng xây dựng văn hóa học thuật lành mạnh thông qua đào tạo về đạo đức nghiên cứu, chuẩn hóa quy trình phản biện và phát huy vai trò của các hội đồng khoa học.

Chỉ khi được đặt trong một hệ thống giám sát minh bạch, đi kèm với chế tài nghiêm minh, các chính sách hỗ trợ mới có thể phát huy hiệu quả, qua đó góp phần hình thành một môi trường khoa học trung thực, chất lượng và phát triển bền vững.

Khi ba trụ cột then chốt gồm thời gian (giảm giờ giảng), nhân lực (hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh) và tài chính (nguồn đầu tư ổn định) được kết nối một cách đồng bộ, có thể kỳ vọng vào sự hình thành một hệ sinh thái khoa học đúng nghĩa trong các trường đại học, thay cho tình trạng nghiên cứu manh mún, rời rạc trước đây.

Trong hệ sinh thái đó, hoạt động nghiên cứu sẽ chuyển từ đơn lẻ sang hợp tác theo nhóm, theo định hướng dài hạn; sinh viên và học viên sau đại học được tích hợp vào quá trình nghiên cứu; đồng thời, doanh nghiệp trở thành đối tác đồng hành trong ứng dụng và chuyển giao tri thức. Quan trọng hơn, hệ sinh thái này tạo ra sự chuyển dịch từ “nghiên cứu để công bố” sang “nghiên cứu để tạo giá trị”, nơi sản phẩm khoa học góp phần giải quyết các vấn đề thực tiễn, tạo ra công nghệ, sản phẩm và đóng góp cho hoạch định chính sách. Nếu được triển khai bài bản, đây sẽ là nền tảng để các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam tiến gần hơn tới mô hình đại học nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

img-5150.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng. Ảnh: website nhà trường.

Bàn về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng cũng cho rằng, thách thức lớn nhất không nằm ở việc trích 5-8% học phí mà ở năng lực hấp thụ, phân bổ và chuyển hóa hiệu quả nguồn lực này trong bối cảnh nhiều cơ sở giáo dục đại học vẫn chưa hình thành được hệ sinh thái nghiên cứu đủ mạnh.

Khi nền tảng về con người, hạ tầng và liên kết còn hạn chế, việc tiếp thêm nguồn lực tài chính nếu không đi kèm với cải cách cơ chế rất dễ dẫn đến hiệu ứng ngược, chi tiêu mang tính hình thức trong khi giá trị khoa học tạo ra lại không tương xứng.

Nếu vẫn duy trì tư duy phân bổ bình quân, nặng tính hành chính, nguồn lực sẽ tiếp tục bị chia nhỏ theo đơn vị, theo đầu mối khiến mỗi đề tài chỉ nhận được một phần kinh phí hạn chế, không đủ để đi đến cùng một hướng nghiên cứu có chiều sâu. Hệ quả là xuất hiện nhiều sản phẩm “an toàn”, thiếu đột phá, không tạo được dấu ấn học thuật hay giá trị chuyển giao rõ rệt.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng chi mà quan trọng hơn là tái cấu trúc cách chi. Cần chuyển mạnh sang cơ chế đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, trong đó các nhóm nghiên cứu mạnh đóng vai trò hạt nhân. Nguồn lực phải được “gom” lại đủ lớn để nuôi dưỡng các hướng nghiên cứu mũi nhọn, có khả năng tạo ra sản phẩm cụ thể và cạnh tranh ở cấp khu vực, quốc tế. Đồng thời, việc phân bổ kinh phí cần gắn chặt với đầu ra, thông qua các cam kết rõ ràng về công bố, sáng chế hoặc chuyển giao công nghệ, thay vì chỉ dừng ở nghiệm thu hình thức.

Một điểm then chốt khác là phải đưa các yếu tố thị trường và đánh giá độc lập vào quá trình phân bổ và giám sát. Sự tham gia của hội đồng khoa học độc lập, cùng với tiếng nói từ doanh nghiệp sẽ giúp lựa chọn đúng hướng nghiên cứu có giá trị, đồng thời tạo áp lực về chất lượng và tính ứng dụng. Khi đó, nghiên cứu khoa học không còn là “sân chơi nội bộ” mà trở thành một phần của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo rộng lớn hơn. Chỉ khi hội tụ được các điều kiện này, nguồn kinh phí trích lập mới thực sự phát huy vai trò như một đòn bẩy chiến lược, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của nhà trường.

Cởi trói giờ giảng, mở lối nghiên cứu dài hạn

Điểm b, Khoản 3, Điều 9, Nghị định số 125/2026/NĐ-CP quy định về Quyền và trách nhiệm của giảng viên là giáo sư, phó giáo sư: Được giảm đến 60% đối với giáo sư và 40% đối với phó giáo sư định mức giờ giảng chuẩn hằng năm để thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, căn cứ vào kế hoạch nghiên cứu và cam kết về sản phẩm khoa học được cơ sở giáo dục đại học phê duyệt.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh, về bản chất quy định này đã “giải phóng” yếu tố then chốt nhất đối với hoạt động khoa học là thời gian chất lượng cao. Trước đây, thời gian của nhà khoa học thường bị chia cắt bởi áp lực định mức giảng dạy khiến họ khó theo đuổi các đề tài dài hơi, đòi hỏi sự tích lũy và tập trung liên tục. Khi gánh nặng này được tháo gỡ, quỹ thời gian được tái cấu trúc theo hướng ưu tiên cho sáng tạo tri thức, cho phép các nhà khoa học đầu tư chiều sâu, theo đuổi những hướng nghiên cứu có tính nền tảng hoặc rủi ro cao nhưng tiềm năng lớn.

Quan trọng hơn, quy định này góp phần thay đổi “logic vận hành” trong môi trường đại học: từ chỗ lấy giờ giảng làm trung tâm sang coi nghiên cứu là một trụ cột thực chất. Khi thu nhập và đánh giá không còn phụ thuộc chủ yếu vào số tiết dạy, nhà khoa học có thể yên tâm dấn thân vào các đề tài dài hạn, thay vì buộc phải phân tán sức lực để “đảm bảo chỉ tiêu”.

Tuy nhiên, để chính sách thực sự tạo ra đột phá, cần đồng bộ với cơ chế tài chính và đánh giá. Việc giảm giờ giảng phải đi kèm với bảo đảm thu nhập ổn định, cơ chế cấp kinh phí đủ mạnh và hệ thống đánh giá dựa trên sản phẩm đầu ra cụ thể. Nếu không, nguy cơ là thời gian được giải phóng nhưng không được chuyển hóa thành kết quả nghiên cứu tương xứng.

“Khi ba yếu tố thời gian, nhân lực và tài chính được kết nối đồng bộ, tôi kỳ vọng sẽ hình thành một hệ sinh thái khoa học trong đại học theo hướng chuyên nghiệp, nơi các nhóm nghiên cứu trở thành trung tâm sản xuất tri thức và đổi mới sáng tạo. Hệ sinh thái này không chỉ dừng lại ở công bố học thuật mà sẽ tạo ra chuỗi giá trị khép kín từ nghiên cứu đến sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, gắn chặt với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường.

Chính sự chuyển dịch từ đầu vào sang đầu ra, từ nghiên cứu để công bố sang nghiên cứu để giải quyết vấn đề sẽ là yếu tố quyết định giúp Việt Nam có thêm nhiều sản phẩm khoa học mang tính ứng dụng cao, đóng góp trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên việc triển khai chính sách cụ thể tại đơn vị còn phụ thuộc rất nhiều vào tư duy của lãnh đạo của đơn vị, đây cũng có thể xem là điểm nghẽn cần giải quyết”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh cho hay.

Ngoài ra, theo nghị định, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định điều kiện, tiêu chí, quy trình công nhận, công nhận lại và không công nhận lại đối với nhóm, trưởng nhóm và thành viên chủ chốt của nhóm nghiên cứu mạnh và nhóm nghiên cứu tiềm năng, trong đó xác định rõ các tiêu chí định lượng tối thiểu về công bố khoa học, quyền sở hữu trí tuệ và các sản phẩm khoa học khác có tính đến đặc thù của từng lĩnh vực hoặc nhóm ngành khoa học; quy định Khung quy đổi sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quang - Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, việc xây dựng các tiêu chí định lượng không thể đi theo một “mẫu số chung” cho mọi lĩnh vực mà cần dựa trên một số nguyên tắc cốt lõi để vừa bảo đảm chuẩn mực học thuật, vừa tôn trọng đặc thù của từng khối ngành.

pgs-ts-ng-hung-quang.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quang - Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên. Ảnh: website nhà trường.

Theo thầy Quang, thứ nhất, cần tôn trọng sự khác biệt giữa các lĩnh vực, xây dựng tiêu chí theo hướng linh hoạt, phù hợp với đặc thù của từng khối ngành. Không thể áp dụng một hệ quy chiếu chung cho mọi lĩnh vực, bởi bản chất tri thức, sản phẩm đầu ra và cách đo lường giá trị của mỗi ngành là khác nhau.

Thứ hai, phải coi trọng giá trị chuyển giao và tác động thực tiễn của nghiên cứu. Thực tế cho thấy không ít đề tài nghiệm thu xong nhưng không đi vào ứng dụng, hoặc sáng chế tồn tại trên giấy. Vì vậy, cần đưa vào các tiêu chí mang tính bắt buộc như hợp đồng chuyển giao, các chỉ số phản ánh hiệu quả kinh tế - xã hội mà nghiên cứu mang lại,...

Thứ ba, cần đề cao tính ổn định và có chu kỳ trong đánh giá. Một nhóm nghiên cứu mạnh không chỉ được nhận diện qua kết quả tức thời, mà còn ở sự liên tục, khả năng phát triển và tích lũy năng lực theo thời gian. Do đó, việc công nhận cần dựa trên quá trình đủ dài, tránh cách nhìn ngắn hạn, “ăn đong” theo từng năm.

Thứ tư, tiêu chí phải bảo đảm tính minh bạch theo hướng đo lường, kiểm chứng, so sánh. Thay vì chỉ dừng ở số lượng công bố hay bằng độc quyền, cần bổ sung các chỉ số cụ thể hơn như doanh thu từ chuyển giao công nghệ, số bằng sáng chế được khai thác thực tế hay mức độ lan tỏa của kết quả nghiên cứu.

Thứ năm, cần ghi nhận đúng vai trò và đóng góp của từng cá nhân trong nhóm, tránh tình trạng “cào bằng” trong đánh giá. Việc xem xét phải dựa trên mức độ tham gia và đóng góp thực chất, qua đó vừa bảo đảm công bằng, vừa tạo động lực cho các nhà khoa học phát huy năng lực và trách nhiệm cá nhân trong hoạt động nghiên cứu.

Thúy Hiền