Nghị định số 125/2026/NĐ-CP thay thế Nghị định số 109/2022/NĐ-CP ngày 30/12/2022 gồm 5 chương, quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học. Một trong những nội dung đáng chú ý quyền và trách nhiệm của giảng viên, đặc biệt là giáo sư, phó giáo sư và giảng viên trẻ có trình độ tiến sĩ.
Theo đó, giảng viên được bảo đảm điều kiện nghiên cứu, tiếp cận nguồn tài trợ, giảm định mức giảng dạy và hưởng lợi ích tương xứng với kết quả nghiên cứu. Đặc biệt, giáo sư có thể được giảm tới 60% giờ giảng, phó giáo sư giảm tới 40%, thậm chí được tạm dừng giảng dạy tối đa 1 năm để phục vụ nghiên cứu và hợp tác quốc tế.
Ngoài ra, giảng viên là giáo sư, phó giáo sư được ưu tiên đặt hàng, giao chủ trì nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với nhóm công nghệ chiến lược và những lĩnh vực mà Nhà nước ưu tiên.
Theo đánh giá của một số nhà khoa học và lãnh đạo cơ sở giáo dục đại học, những quy định mới được xem là bước tiến quan trọng trong việc tháo gỡ rào cản, tạo động lực thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học.
Giảm giờ giảng cho giáo sư, phó giáo sư là bước đột phá về tư duy quản lý
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quản Thành Thơ - Trưởng khoa Khoa học và Kỹ thuật máy tính, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh, điểm đột phá lớn nhất của Nghị định 125/2026/NĐ-CP là chuyển cách tiếp cận quản lý giảng viên, nhà khoa học từ “đủ giờ” sang “đủ năng lực và đủ điều kiện để tạo ra đầu ra khoa học có giá trị”.
Quy định cho phép giáo sư được giảm đến 60%, phó giáo sư giảm đến 40% định mức giờ giảng chuẩn hằng năm; đồng thời cho phép tạm dừng giảng dạy tối đa 1 năm, vẫn hưởng nguyên lương và phụ cấp tháo gỡ “nút thắt thời gian” vốn tồn tại rất lâu trong đại học.
“Nghiên cứu khoa học nghiêm túc, đặc biệt là nghiên cứu cơ bản, liên ngành, phát triển công nghệ lõi hoặc các đề tài hợp tác quốc tế đòi hỏi quỹ thời gian đủ dài và sự tập trung cao độ. Trong khi đó, nếu nhà khoa học phải liên tục chia nhỏ thời gian để đáp ứng định mức giờ giảng, xử lý công việc hành chính và các áp lực ngắn hạn khác sẽ rất khó theo đuổi các bài toán mang tính dài hạn. Vì vậy, việc thể chế hóa cơ chế giảm tải giảng dạy không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật trong quản lý mà còn thể hiện sự ghi nhận của Nhà nước đối với thời gian nghiên cứu như một nguồn lực cần được bảo vệ và đầu tư đúng mức.
Điều quan trọng hơn nữa là quy định này có thể góp phần thay đổi động lực trong trường đại học. Trước đây, không ít giảng viên giỏi nghiên cứu vẫn buộc phải phân tán sức lực để bảo đảm các chỉ tiêu thường nhật. Đến nay, khi có cơ chế hợp pháp để dành thời gian cho nghiên cứu mà vẫn bảo đảm chế độ, họ sẽ có điều kiện yên tâm hơn để đầu tư vào các hướng nghiên cứu có độ khó cao, rủi ro cao nhưng giá trị lớn.
Nói cách khác, đây không chỉ là giảm giờ giảng mà là tạo ra một “khoảng không học thuật” đủ rộng để người làm khoa học dấn thân vào những đề tài có khả năng tạo dấu ấn thật sự. Tuy nhiên, các ưu đãi này phải gắn với kế hoạch nghiên cứu, cam kết sản phẩm cụ thể và nhà trường phải chủ động bù đắp khối lượng giảng dạy để không ảnh hưởng chất lượng đào tạo”, Phó Giáo sư Quản Thành Thơ cho hay.
Ngoài ra, Nghị định 125/2026/NĐ-CP đã nêu rõ định hướng rằng Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định điều kiện, tiêu chí, quy trình công nhận, công nhận lại và không công nhận lại đối với nhóm, trưởng nhóm và thành viên chủ chốt của nhóm nghiên cứu mạnh và nhóm nghiên cứu tiềm năng, trong đó xác định rõ các tiêu chí định lượng tối thiểu về công bố khoa học, quyền sở hữu trí tuệ và các sản phẩm khoa học khác có tính đến đặc thù của từng lĩnh vực hoặc nhóm ngành khoa học; quy định Khung quy đổi sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo thầy Thơ, việc xây dựng bộ tiêu chí định lượng để công nhận nhóm nghiên cứu mạnh và nhóm nghiên cứu tiềm năng là rất cần thiết và phải xây dựng trên những nguyên tắc cốt lõi.
Một là không thể dùng một mẫu số chung cho mọi ngành. Ở các lĩnh vực kỹ thuật, khoa học máy tính, công nghệ, tiêu chí có thể nhấn mạnh hơn vào bài báo quốc tế chất lượng cao, bằng sáng chế, giải pháp kỹ thuật, nguyên mẫu công nghệ, chuẩn kỹ thuật hay kết quả chuyển giao. Nhưng ở lĩnh vực khoa học xã hội, giáo dục, luật, quản trị hay một số ngành liên ngành, tác động học thuật và xã hội có thể được thể hiện qua sách chuyên khảo, báo cáo chính sách, bộ dữ liệu, mô hình can thiệp, sản phẩm phục vụ cộng đồng hoặc đóng góp cho hoạch định chính sách. Nếu áp dụng cùng một thước đo cứng cho tất cả có thể vô tình làm méo động lực nghiên cứu của từng khối ngành.
Hai là đánh giá chất lượng và tác động, không chỉ đếm số lượng. Một nhóm nghiên cứu mạnh không nên được hiểu đơn giản là nhóm có nhiều bài báo nhất hoặc nhiều hồ sơ sở hữu trí tuệ nhất. Điều cốt lõi phải là năng lực dẫn dắt học thuật, khả năng hình thành hướng nghiên cứu bền vững, đào tạo nhân lực chất lượng cao, thu hút hợp tác quốc tế, liên kết với doanh nghiệp và tạo ra sản phẩm có giá trị thực tiễn.
Theo tinh thần của nghị định, nhóm nghiên cứu mạnh phải hướng tới sản phẩm có giá trị khoa học và thực tiễn, có tác động lan tỏa đối với phát triển kinh tế - xã hội. Đây là logic đúng cho một bộ tiêu chí hiện đại.
Ba là chính sách cần bảo đảm hài hòa giữa chọn lọc và nuôi dưỡng. Hệ sinh thái nghiên cứu không thể chỉ dựa vào một số ít nhóm đã đạt trình độ cao, mà cần song hành với việc ươm tạo các nhóm tiềm năng để phát triển lâu dài. Nghị định đã bước đầu phân định rõ hai tầng này, khi các nhóm tiềm năng được ưu tiên xem xét giao nhiệm vụ, đồng thời nhận hỗ trợ nâng cao năng lực nhằm tiến tới hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh.
Đây là cách tiếp cận hợp lý, bởi chính sách hiệu quả không chỉ dừng lại ở việc “chọn người thắng” mà còn phải tạo dựng được lực lượng kế cận, bảo đảm sự phát triển bền vững của hệ sinh thái khoa học trong tương lai.
Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trung Cang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiên Giang cho rằng việc xây dựng các tiêu chí định lượng cần đảm bảo tính linh hoạt và phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.
“Trước hết, các tiêu chí cần được thiết kế theo hướng phân nhóm ngành, bởi mỗi lĩnh vực khoa học có đặc điểm khác nhau về công bố khoa học, chuyển giao công nghệ và sở hữu trí tuệ. Chẳng hạn, đối với khối khoa học tự nhiên và kỹ thuật, các tiêu chí về công bố quốc tế, bằng sáng chế, chuyển giao công nghệ có thể được đặt trọng tâm; trong khi đó, đối với khối khoa học xã hội và nhân văn, các sản phẩm như sách chuyên khảo, báo cáo chính sách, sản phẩm phục vụ cộng đồng cũng cần được ghi nhận tương xứng.
Bên cạnh đó, các tiêu chí cần cân bằng giữa số lượng và chất lượng, tránh chạy theo số lượng công bố mà bỏ qua giá trị thực tiễn của nghiên cứu. Việc đánh giá cũng nên xem xét năng lực phát triển bền vững của nhóm nghiên cứu, bao gồm khả năng thu hút nguồn lực, đào tạo đội ngũ kế cận, hợp tác quốc tế và chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Đồng thời, tiêu chí cần có tính mở, tạo điều kiện cho các nhóm nghiên cứu mới hình thành và phát triển, tránh tạo rào cản quá cao đối với các nhóm tiềm năng”, Phó Giáo sư Nguyễn Trung Cang cho hay.
Bên cạnh đó, việc cho phép giáo sư, phó giáo sư được giảm định mức giờ giảng và tạm dừng giảng dạy trong một khoảng thời gian để tập trung nghiên cứu là một bước tiến quan trọng trong tư duy quản lý khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học. Quy định này giúp giải quyết bài toán thời gian - một trong những rào cản lớn nhất đối với các nhà khoa học hiện nay.
Trước đây, nhiều giảng viên có học hàm cao vẫn phải đảm bảo định mức giờ giảng tương đối lớn, đồng thời tham gia công tác quản lý và các nhiệm vụ chuyên môn khác, dẫn đến quỹ thời gian dành cho nghiên cứu bị hạn chế. Điều này khiến các nhà khoa học khó theo đuổi các đề tài dài hạn, có tính liên ngành hoặc nghiên cứu có chiều sâu. Khi được giảm giờ giảng, các giáo sư, phó giáo sư sẽ có điều kiện tập trung xây dựng nhóm nghiên cứu, triển khai các đề tài dài hơi, tăng cường hợp tác quốc tế và thúc đẩy công bố khoa học chất lượng cao.
Đặc biệt, quy định này còn góp phần chuyển dịch từ tư duy “hoàn thành định mức giảng dạy” sang “tạo ra sản phẩm khoa học có giá trị”, qua đó nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và vị thế học thuật của các cơ sở giáo dục đại học. Đồng thời, khi kết hợp với cơ chế tài chính và chính sách hỗ trợ phù hợp, các nhà khoa học sẽ yên tâm hơn trong việc theo đuổi các hướng nghiên cứu dài hạn, có tính ứng dụng và đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội.
Cơ chế thông thoáng, trách nhiệm giải trình phải minh bạch
Theo Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiên Giang, khi các yếu tố về thời gian, nhân lực và tài chính được kết nối đồng bộ, Nghị định 125/2026/NĐ-CP mở ra dư địa hình thành một hệ sinh thái khoa học mới trong các cơ sở giáo dục đại học. Trong đó, giảng viên có thêm thời gian cho nghiên cứu, các nhóm nghiên cứu mạnh được hình thành và phát triển, còn nguồn lực tài chính được phân bổ linh hoạt, hướng nhiều hơn tới các hoạt động khoa học và đổi mới sáng tạo.
Những thay đổi này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch từ nghiên cứu thuần hàn lâm sang nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và địa phương. Khi được bảo đảm đầy đủ nguồn lực, các nhóm nghiên cứu có điều kiện triển khai các dự án ứng dụng, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và từng bước thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Qua đó, sản phẩm khoa học không chỉ dừng lại ở công bố học thuật mà có thể phát triển thành công nghệ, giải pháp quản lý hoặc mô hình phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Về dài hạn, hệ sinh thái này sẽ góp phần nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời tạo nền tảng để Việt Nam gia tăng các sản phẩm khoa học có giá trị ứng dụng cao, đóng góp thiết thực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh các cơ chế hỗ trợ, việc xây dựng cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình là yêu cầu cần thiết nhằm đảm bảo liêm chính khoa học. Trước hết, cần thiết lập hệ thống đánh giá định kỳ đối với các nhóm nghiên cứu và các đề tài được hỗ trợ, dựa trên các tiêu chí cụ thể về tiến độ, sản phẩm khoa học và hiệu quả ứng dụng.
Đối với các trường hợp vi phạm đạo đức khoa học, như bị gỡ bài báo hoặc công bố không trung thực, cần có các chế tài phù hợp như thu hồi kinh phí nghiên cứu, tạm dừng hoặc hạ bậc nhóm nghiên cứu, đồng thời hạn chế tham gia các chương trình hỗ trợ nghiên cứu trong một thời gian nhất định. Bên cạnh đó, cần tăng cường minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình của các nhóm nghiên cứu, qua đó nâng cao ý thức tuân thủ đạo đức khoa học và đảm bảo chất lượng nghiên cứu.
Việc kết hợp giữa cơ chế hỗ trợ và cơ chế giám sát chặt chẽ sẽ góp phần xây dựng môi trường nghiên cứu lành mạnh, nâng cao chất lượng khoa học và thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bền vững trong các cơ sở giáo dục đại học.
Tiếp nối các quy định về tăng cường trách nhiệm giải trình, Phó Giáo sư Quản Thành Thơ cho rằng cần thiết kế cơ chế giám sát nhiều tầng để bảo đảm chính sách đi vào thực chất. Theo Nghị định 125/2026/NĐ-CP, cơ sở giáo dục đại học phải thực hiện tự giám sát, đánh giá định kỳ hoặc đột xuất trên cơ sở dữ liệu, bằng chứng và các tiêu chí định lượng, định tính; đồng thời, cơ quan quản lý cấp trên có trách nhiệm kiểm tra việc triển khai nhiệm vụ khoa học sử dụng ngân sách, cũng như hoạt động tự giám sát và độ tin cậy của dữ liệu.
Trên nền tảng đó, cơ chế giám sát được đề xuất theo ba tầng. Thứ nhất là giám sát thường xuyên thông qua dữ liệu và công khai thông tin. Thứ hai là đánh giá theo chu kỳ đối với các nhóm nghiên cứu, trưởng nhóm và các nhiệm vụ được hưởng ưu đãi. Thứ ba là hậu kiểm nghiêm ngặt đối với các sản phẩm khoa học có dấu hiệu vi phạm; đặc biệt là các hành vi liên quan đến đạo văn, ngụy tạo dữ liệu, gian lận tác giả, kê khai sai thành tích hoặc sử dụng kinh phí sai mục đích.
Trong bối cảnh Nghị định đặt ra yêu cầu rõ ràng về liêm chính khoa học, trách nhiệm giải trình và minh bạch dữ liệu, việc xử lý vi phạm, không thể dừng ở nhắc nhở nội bộ mà cần có chế tài tương xứng.
Cụ thể, các vi phạm về tiến độ hoặc không đạt cam kết đầu ra nhưng chưa có dấu hiệu gian lận có thể bị cắt giảm ưu đãi, tạm dừng hỗ trợ hoặc hạ mức ưu tiên khi phân bổ nhiệm vụ, kinh phí. Trong khi đó, các vi phạm nghiêm trọng về liêm chính khoa học như bị gỡ bài do gian lận học thuật hoặc vi phạm đạo đức nghiên cứu, cần xem xét thu hồi kinh phí, đình chỉ hoặc thu hồi các ưu đãi đã được hưởng, không công nhận lại nhóm nghiên cứu, tạm dừng quyền chủ trì nhiệm vụ trong thời hạn nhất định, thậm chí công khai kết luận xử lý để bảo vệ chuẩn mực chung.
Những đề xuất này xuất phát từ tinh thần trách nhiệm giải trình và liêm chính khoa học mà nghị định đã đặt ra; tuy nhiên, mức chế tài cụ thể vẫn cần tiếp tục được thể chế hóa trong các văn bản hướng dẫn và quy chế nội bộ của từng cơ sở giáo dục đại học.
Nghị định 125/2026/NĐ-CP mở ra cơ hội quan trọng để các trường đại học chuyển từ tư duy quản lý theo định mức sang phát triển dựa trên năng lực nghiên cứu và giá trị đầu ra. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả, yếu tố then chốt không chỉ là ưu đãi mà còn là hệ thống tiêu chí phù hợp, cơ chế giám sát thực chất và trách nhiệm giải trình rõ ràng. Đây được xem là nền tảng để xây dựng môi trường học thuật vừa khuyến khích sáng tạo, vừa bảo đảm kỷ cương và liêm chính.