Nếu yêu cầu tối thiểu 7 tiến sĩ, nhiều CTĐT có thể phải thu hẹp hoặc dừng tuyển sinh

25/04/2026 06:29
ĐÀO HIỀN

GDVN - Việc tăng số lượng tiến sĩ chủ trì chương trình đào tạo đại học được kỳ vọng nâng cao chất lượng, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức nếu triển khai.

Dự thảo Thông tư quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học có nhiều điểm mới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, trong đó đáng chú ý là yêu cầu về đội ngũ giảng viên tham gia chủ trì chương trình.

Cụ thể, mỗi chương trình đào tạo trình độ đại học phải có tối thiểu 7 giảng viên có trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì, đồng thời phân công 2 giảng viên chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện.

Đối với các ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe và pháp luật, quy định còn đặt ra yêu cầu cao hơn khi cần ít nhất 7 giảng viên toàn thời gian có trình độ tiến sĩ đúng hoặc gần ngành đảm nhiệm vai trò này.

Kỳ vọng nâng chất nhưng cần cơ chế đi kèm để tránh rủi ro

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Thân Thanh Sơn - Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Đại học Công nghiệp Hà Nội cho rằng, quy định mỗi chương trình đào tạo đại học phải có tối thiểu 7 giảng viên trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, quy định này cũng đặt ra không ít áp lực đối với các cơ sở giáo dục đại học.

Thứ nhất, về tác động đến chất lượng đào tạo, theo Tiến sĩ Sơn, việc nâng chuẩn đội ngũ lên tối thiểu 7 tiến sĩ sẽ góp phần thúc đẩy quá trình chuẩn hóa và nâng cao chất lượng các chương trình đào tạo. Khi tỷ lệ giảng viên có trình độ cao được tăng cường, các cơ sở đào tạo sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới phương pháp giảng dạy, đồng thời bảo đảm tính ổn định và phát triển bền vững của chương trình.

Đặc biệt, đối với những chương trình liên ngành, xuyên ngành vốn đòi hỏi sự tích hợp kiến thức và kỹ năng ở mức độ cao thì việc có đội ngũ giảng viên trình độ tiến sĩ đủ mạnh sẽ giúp người học được tiếp cận với tri thức chuyên sâu, cập nhật, qua đó nâng cao chất lượng đầu ra.

Thứ hai, về áp lực đối với các cơ sở đào tạo, thầy Sơn cho rằng quy định này có thể làm gia tăng sự cạnh tranh trong việc thu hút và giữ chân đội ngũ giảng viên trình độ tiến sĩ, kéo theo áp lực lớn về tài chính. Trong bối cảnh nguồn nhân lực chất lượng cao còn hạn chế, không ít cơ sở giáo dục đại học có thể gặp khó khăn trong việc đáp ứng yêu cầu về đội ngũ, thậm chí buộc phải tạm dừng hoặc thu hẹp một số chương trình đào tạo.

Bên cạnh đó, các nhà trường cũng sẽ chịu áp lực trong việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ tại chỗ, đồng thời rà soát, tái cấu trúc danh mục chương trình đào tạo nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực giảng viên có trình độ tiến sĩ.

Theo Tiến sĩ Thân Thanh Sơn, nếu quy định mỗi chương trình đào tạo đại học phải có tối thiểu 7 giảng viên trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì được triển khai, vấn đề cần đặc biệt lưu ý là nguy cơ phát sinh tình trạng “hợp thức hóa” đội ngũ.

Theo đó, một số cơ sở đào tạo có thể lựa chọn giải pháp ký kết hợp đồng mang tính hình thức với giảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu về số lượng, thay vì bảo đảm sự tham gia thực chất vào quá trình xây dựng và vận hành chương trình. Khi đó, hệ quả không chỉ dừng lại ở việc làm sai lệch bản chất của quy định, mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh thiếu công bằng giữa các cơ sở đào tạo đầu tư nghiêm túc với những đơn vị chạy theo hình thức đối phó, từ đó làm suy giảm hiệu quả của chủ trương nâng cao chất lượng giáo dục đại học.

t109814-1.jpg
Tiến sĩ Thân Thanh Sơn - Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Đại học Công nghiệp Hà Nội. Ảnh: Nhà trường từng cung cấp.

Để hạn chế những hệ lụy này, thầy Sơn cho rằng cần thiết phải thiết kế và triển khai đồng bộ các cơ chế kiểm soát.

Thứ nhất, về quản lý đội ngũ, cần xây dựng hệ thống định danh giảng viên trên phạm vi toàn quốc thông qua một cơ sở dữ liệu số tập trung, có khả năng liên thông giữa các cơ sở giáo dục đại học. Hệ thống này phải bảo đảm mỗi giảng viên trình độ tiến sĩ chỉ được đăng ký tham gia chủ trì một chương trình đào tạo duy nhất, qua đó ngăn chặn tình trạng “đứng tên” ở nhiều nơi nhưng không tham gia thực chất.

Thứ hai, về minh bạch thông tin, cần yêu cầu các cơ sở đào tạo công khai đầy đủ hồ sơ khoa học của giảng viên, bao gồm quá trình đào tạo, lĩnh vực chuyên môn, các học phần đảm nhiệm giảng dạy cũng như các công trình nghiên cứu đang triển khai. Việc minh bạch này không chỉ giúp người học có thêm thông tin để lựa chọn mà còn tạo điều kiện để xã hội, các bên liên quan tham gia giám sát, qua đó nâng cao trách nhiệm giải trình của các nhà trường.

Thứ ba, về giám sát thực thi, cần có cơ chế kiểm tra, đánh giá định kỳ và đột xuất đối với việc tham gia thực tế của giảng viên trong chương trình đào tạo, tránh tình trạng chỉ đáp ứng tiêu chí trên giấy tờ. Đồng thời, cần gắn trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở đào tạo trong việc bảo đảm tính trung thực và hiệu quả của đội ngũ giảng viên tham gia chủ trì chương trình.

“Trên thực tế, quy định về số lượng tiến sĩ chủ trì mỗi chương trình đào tạo mới chỉ là điều kiện cần. Điều quan trọng hơn là phải có cơ chế giám sát chặt chẽ, bảo đảm sự tham gia thực chất của đội ngũ, từ đó mới có thể đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo đại học trong giai đoạn tới”, Tiến sĩ Sơn nhấn mạnh.

Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lâm Nhân - Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra những thách thức mà các cơ sở đào tạo thuộc lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật có thể phải đối mặt nếu quy định này được áp dụng.

Theo thầy Nhân, so với lĩnh vực khoa học tự nhiên thì lĩnh vực khoa học xã hội, đặc biệt là khối ngành văn hóa - nghệ thuật sẽ gặp nhiều khó khăn hơn do đặc thù đào tạo khác biệt. Nếu áp dụng một khung cứng về số lượng giảng viên trình độ tiến sĩ, nhiều ngành đào tạo văn hóa, nghệ thuật có thể đứng trước nguy cơ không duy trì được, thậm chí không còn nguồn đào tạo.

Bên cạnh đó, thầy Nhân cũng nhấn mạnh rằng lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật mang tính thực hành cao, trong đó đội ngũ giảng dạy không chỉ là giảng viên có học vị mà còn có sự tham gia quan trọng của các nghệ nhân, nghệ sĩ - những người có kinh nghiệm thực tiễn và giá trị chuyên môn đặc thù. Tuy nhiên, những đóng góp này khó có thể đo lường bằng các tiêu chí học thuật như công bố khoa học, bài báo nghiên cứu.

Do đó, nếu áp dụng cứng nhắc yêu cầu về số lượng tiến sĩ, nhiều chương trình đào tạo có thể buộc phải thu hẹp hoặc dừng tuyển sinh, trong khi nhu cầu xã hội đối với các lĩnh vực này vẫn còn hiện hữu.

“Việc nâng cao chất lượng đào tạo là mục tiêu cần thiết, tuy nhiên các quy định cần được xây dựng trên cơ sở tính đến sự khác biệt giữa các nhóm ngành, tránh áp dụng cứng nhắc dẫn đến những áp lực không phù hợp.

Hiện nay, Thông tư số 01 về Chuẩn cơ sở giáo dục đại học đã quy định về tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ và được đánh giá là tương đối phù hợp với điều kiện thực tiễn. Nếu tiếp tục bổ sung các yêu cầu mang tính đồng loạt như trong dự thảo này, các cơ sở đào tạo thuộc khối văn hóa - nghệ thuật sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc đáp ứng, thậm chí có thể ảnh hưởng đến sự duy trì và phát triển của các ngành đào tạo đặc thù”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lâm Nhân nêu quan điểm.

518276666-1080423747556377-7732752005451610854-n.jpg
Nếu áp dụng quy định 7 giảng viên tiến sĩ chủ trình ngành, lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật sẽ đối mặt với nhiều thách thức. Ảnh minh họa: website Trường ĐH Văn hóa TPHCM.

Còn theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Anh Tuấn - Hiệu trưởng Trường Đại học Tân Trào, quy định về số lượng giảng viên trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì chương trình đào tạo cần được xem xét điều chỉnh theo hướng linh hoạt, phù hợp hơn với điều kiện thực tế của các cơ sở giáo dục đại học.

Chẳng hạn, có thể duy trì mức tối thiểu 5 tiến sĩ hoặc xây dựng lộ trình tăng dần theo từng giai đoạn, thay vì áp dụng ngay một mức “cứng” trong thời gian ngắn.

Bên cạnh đó, theo thầy Tuấn, cần cho phép tính đến một tỷ lệ nhất định giảng viên thuộc ngành gần hoặc có chuyên môn phù hợp tham gia chủ trì chương trình đào tạo, nhằm tận dụng hiệu quả nguồn nhân lực sẵn có. Đồng thời, đối với các cơ sở đào tạo địa phương, cần có cơ chế linh hoạt hơn để bảo đảm khả năng mở ngành gắn với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, tránh tình trạng quy định chung nhưng khó triển khai trong thực tiễn.

Khi công bố quốc tế trở thành yêu cầu tất yếu với giảng viên

Trên thực tế, khả năng thu hút và phát triển đội ngũ giảng viên giữa các cơ sở giáo dục đại học có sự khác biệt đáng kể, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vị trí địa lý, điều kiện tài chính, môi trường học thuật và đặc thù ngành đào tạo.

Tiến sĩ Trần Mạnh Hà - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Vinh cho rằng, các trường đại học tại những đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đang có nhiều lợi thế hơn trong việc đáp ứng yêu cầu về đội ngũ giảng viên trình độ tiến sĩ, do nguồn nhân lực chất lượng cao thường tập trung tại các khu vực này. Trong khi đó, các cơ sở đào tạo ở địa phương gặp không ít khó khăn trong việc thu hút, chiêu mộ và giữ chân giảng viên có trình độ cao.

Theo thầy Hà, nếu quy định trong dự thảo Thông tư được triển khai hiệu quả, đây sẽ là một bước tiến tích cực, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Tuy nhiên, yêu cầu tối thiểu 7 giảng viên trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì mỗi chương trình cũng tạo ra áp lực đáng kể đối với nhiều cơ sở giáo dục, đặc biệt là những ngành đào tạo đặc thù vốn có nguồn nhân lực trình độ tiến sĩ còn hạn chế.

Bên cạnh đó, thầy cũng bày tỏ lo ngại rằng nếu áp dụng quy định một cách cứng nhắc, có thể phát sinh tình trạng “hợp thức hóa” hồ sơ nhằm đáp ứng điều kiện. Do đó, thầy đề xuất cần xem xét điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn, có thể hạ mức yêu cầu hoặc thiết kế tiêu chí phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực, từng loại hình cơ sở đào tạo.

“Cách tiếp cận này không chỉ giúp các trường có khả năng đáp ứng quy định, mà còn tạo động lực để từng bước xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên một cách thực chất, bền vững”, thầy Hà cho hay.

Bên cạnh yêu cầu về trình độ học thuật, dự thảo Thông tư còn đặt ra các tiêu chí cụ thể đối với đội ngũ giảng viên chủ trì chương trình đào tạo. Theo đó, giảng viên không chỉ cần có kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về công bố khoa học, như có bài báo thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus, hoặc sở hữu các sản phẩm học thuật như sách chuyên khảo, sáng chế.

Theo Tiến sĩ Trần Mạnh Hà, đây là yêu cầu cần thiết để nâng cao chất lượng đội ngũ, tuy nhiên cũng đặt ra không ít thách thức trong quá trình thực hiện. Bởi, nếu như kinh nghiệm giảng dạy là yếu tố có thể tích lũy theo thời gian, thì yêu cầu về công bố khoa học lại phụ thuộc nhiều vào điều kiện nghiên cứu, môi trường học thuật và nguồn lực hỗ trợ.

Trên thực tế, ngay cả với giảng viên đã có trình độ tiến sĩ, nếu không được tạo điều kiện thuận lợi về nghiên cứu thì cũng khó đáp ứng các tiêu chí này trong thời gian ngắn.

Để Thông tư có thể triển khai hiệu quả trong thực tiễn, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Vinh cho rằng cơ quan quản lý cần xây dựng lộ trình áp dụng phù hợp, tạo “độ trễ” cần thiết để các cơ sở giáo dục đại học có thời gian chuẩn bị, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giảng viên, đặc biệt là đối với các trường địa phương.

Theo thầy, nếu áp dụng ngay các tiêu chí ở mức cao trong thời gian ngắn, áp lực đặt lên các nhà trường sẽ rất lớn, thậm chí có thể khiến một số ngành đào tạo phải tạm dừng do chưa kịp đáp ứng yêu cầu về nhân lực.

t96232.jpg
Các trường đại học tại những đô thị lớn có nhiều lợi thế hơn trong việc đáp ứng yêu cầu về đội ngũ giảng viên trình độ tiến sĩ. Ảnh minh họa: Đại học Công nghiệp Hà Nội

Trong khi đó, theo Tiến sĩ Thân Thanh Sơn, việc yêu cầu giảng viên chủ trì chương trình đào tạo phải có công bố quốc tế (thuộc danh mục Scopus/WoS), sách chuyên khảo hoặc sáng chế là bước đi tất yếu, mang tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng và vị thế của giáo dục đại học Việt Nam.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, giảng viên không chỉ dừng lại ở vai trò truyền đạt kiến thức mà cần trực tiếp tham gia vào quá trình kiến tạo tri thức mới. Những tiêu chuẩn này sẽ góp phần thúc đẩy đội ngũ giảng viên cập nhật các xu hướng nghiên cứu tiên tiến trên thế giới, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy và tăng cường năng lực cạnh tranh của chương trình đào tạo.

Tuy nhiên, thầy Sơn cũng nhìn nhận quy định này đang tạo ra một áp lực “kép” đối với cả cơ sở đào tạo và đội ngũ giảng viên. Tính khả thi của chính sách bị thách thức bởi sự khác biệt giữa các khối ngành, trong khi nhóm ngành kỹ thuật, khoa học tự nhiên có nhiều thuận lợi trong công bố quốc tế, thì các lĩnh vực khoa học xã hội, nghệ thuật lại gặp không ít rào cản, đặc biệt về ngôn ngữ và hệ thống tạp chí phù hợp.

Nếu không có cơ chế điều tiết hợp lý, áp lực này có thể dẫn đến những biểu hiện tiêu cực như chạy theo số lượng, tìm cách “có tên” trong các công bố quốc tế, vô hình trung làm lệch mục tiêu ban đầu của chính sách.

Để Thông tư thực sự phát huy hiệu quả và tránh rơi vào hình thức, Tiến sĩ Sơn đề xuất cần thiết lập cơ chế quản trị theo hướng linh hoạt và minh bạch hơn. Theo đó, cần chuyển từ cách tiếp cận “quản lý đầu vào dựa trên hồ sơ” sang chú trọng “minh bạch quá trình triển khai” và “giám sát hoạt động thực tế”, qua đó bảo đảm chất lượng được kiểm chứng bằng hiệu quả vận hành thay vì chỉ dựa trên các tiêu chí giấy tờ.

ĐÀO HIỀN