Theo Thông tư số 37/2026/TT-BGDĐT ban hành danh mục ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao, có 36 ngành, nghề thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao được xác định là ngành, nghề đào tạo đặc thù khi đáp ứng đầy đủ 8 tiêu chí, gồm: nội dung đào tạo; yêu cầu năng khiếu, tố chất; đào tạo năng khiếu chuyên sâu, dài hạn; điều kiện và tính chất lao động; yêu cầu đào tạo; phương thức đánh giá, công nhận kết quả học tập; tính đặc thù của nhiệm vụ nghề nghiệp; tác động kinh tế - xã hội.
Theo lãnh đạo một số khoa đào tạo về nghệ thuật trình độ cao đẳng, việc chuẩn hóa các tiêu chí xác định ngành, nghề đặc thù không chỉ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho hoạt động tuyển sinh và đào tạo, mà còn giúp các đơn vị thuận lợi hơn trong đề xuất cơ chế, chính sách phù hợp với đặc thù lĩnh vực nghệ thuật. Qua đó, góp phần phát triển nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao, thúc đẩy phát triển văn hóa theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Cơ sở đào tạo ngành, nghề đặc thù là "cái nôi" phát triển nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Ban - Trưởng khoa, Khoa Mỹ thuật, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Nghệ An chia sẻ: "Trong quá trình bảo tồn và phát triển văn hóa Việt Nam, tôi cho rằng các cơ sở đào tạo ngành, nghề đặc thù giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có thể xem là “cái nôi” hình thành nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao cho đất nước. Muốn phát triển văn hóa bền vững thì trước hết phải có đội ngũ con người đủ năng lực sáng tạo, đủ chiều sâu văn hóa và đủ bản lĩnh để gìn giữ, phát huy các giá trị dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Các trường nghệ thuật hiện nay không đơn thuần là đào tạo người “làm nghề”, mà phải đào tạo những chủ thể sáng tạo văn hóa. Một nghệ sĩ không chỉ cần giỏi kỹ năng mà còn phải có tư duy xã hội, hiểu biết văn hóa dân tộc, khả năng ứng dụng công nghệ, năng lực hội nhập quốc tế và đặc biệt là trách nhiệm xã hội đối với việc bảo tồn, lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam".
Cũng theo thầy Ban, tinh thần của Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới không chỉ dừng ở bảo tồn mà phải chuyển sang tư duy phát triển, tức là văn hóa phải trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển đất nước. Muốn làm được điều đó thì phải có đội ngũ nhân lực văn hóa chất lượng cao, những con người vừa có tài năng nghệ thuật, vừa có khả năng tạo ra sản phẩm văn hóa có giá trị xã hội, giá trị thẩm mỹ và giá trị kinh tế.
Trong thực tế, các cơ sở đào tạo ngành, nghề đặc thù chính là nơi phát hiện, tuyển chọn và nuôi dưỡng tài năng từ rất sớm. Nhiều lĩnh vực nghệ thuật đòi hỏi quá trình đào tạo kéo dài hàng chục năm, ví dụ như múa, âm nhạc, sân khấu truyền thống hay xiếc. Đây là những ngành nghề có tính đặc thù rất cao, phụ thuộc vào năng khiếu, tố chất và quá trình rèn luyện liên tục.
"Thông tư 37 nêu rõ, ngành, nghề đào tạo đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật là tập hợp các ngành, nghề đào tạo có tính chất khác biệt so với các ngành, nghề đào tạo thông thường, gắn với hoạt động sáng tác, chuyển thể, biểu diễn trong các lĩnh vực mỹ thuật, nghệ thuật trình diễn và nghệ thuật nghe nhìn; đòi hỏi người học có năng khiếu, tố chất sáng tạo, cảm thụ và biểu đạt nghệ thuật; quá trình đào tạo chuyên sâu, điều kiện tổ chức đào tạo đặc thù và phương thức đánh giá, công nhận kết quả học tập riêng biệt.
Các tiêu chí được đặt ra để xác định ngành, nghề đào tạo đặc thù sẽ là cơ sở để các trường có điều kiện xây dựng phương thức tuyển sinh linh hoạt hơn, tập trung vào đánh giá năng khiếu, cảm thụ nghệ thuật, tư duy sáng tạo và tiềm năng phát triển nghề nghiệp của người học vì nghệ thuật không thể đo lường hoàn toàn bằng điểm số học thuật thông thường.
Bên cạnh đó, các tiêu chí xác định chính là tiền đề để nhà trường thiết kế chương trình theo hướng chuyên sâu hơn, tăng thời lượng thực hành, biểu diễn, sáng tác và trải nghiệm nghề nghiệp thực tế, đồng thời giúp xác định rõ chuẩn đầu ra phù hợp với từng loại hình nghệ thuật.
Ngoài ra, việc được xác định là ngành, nghề đặc thù cũng sẽ tạo cơ sở để nhà trường có thể đề xuất cơ chế tài chính phù hợp hơn. Đây là lĩnh vực có chi phí đào tạo cao nhưng hiệu quả không thể đo lường ngay bằng lợi nhuận kinh tế ngắn hạn. Giá trị lớn nhất của đào tạo nghệ thuật nằm ở việc tạo ra nguồn lực văn hóa, bảo tồn bản sắc dân tộc và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần có cơ chế đầu tư mang tính chiến lược lâu dài", thầy Ban nhìn nhận.
Đồng quan điểm, Thạc sĩ Nguyễn Văn Hiếu - Phụ trách khoa, Khoa Đồ họa, Trường Cao đẳng Mỹ thuật trang trí Đồng Nai cho rằng: "Từ các tiêu chí cụ thể trong xác định ngành, nghề đặc thù theo Thông tư 37/2026/TT-BGDĐT, cơ sở đào tạo sẽ tiếp tục xây dựng chương trình, phương thức đào tạo và cơ chế đánh giá phù hợp với đặc thù nghề nghiệp.
Đáng chú ý, tiêu chí về tác động kinh tế - xã hội cho thấy sự nhìn nhận đầy đủ hơn đối với lĩnh vực nghệ thuật. Dù không phải ngành nào cũng mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp lớn, nhưng các ngành như gốm, đồ họa, điêu khắc hay hội họa lại có vai trò quan trọng trong bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống, phát triển đời sống tinh thần và góp phần quảng bá hình ảnh quốc gia. Đặc biệt là khả năng tác động trực tiếp đến không gian sống, thị giác cộng đồng và cảm nhận văn hóa của xã hội.
Ví dụ, điêu khắc không chỉ tạo ra tác phẩm nghệ thuật mà còn tham gia vào kiến trúc cảnh quan và không gian công cộng; gốm không chỉ là sản phẩm thủ công mà còn gắn với văn hóa đời sống và bản sắc làng nghề; hội họa phản ánh đời sống xã hội và cảm xúc thời đại; còn đồ họa hiện nay đóng vai trò rất lớn trong truyền thông thị giác và quảng bá hình ảnh văn hóa. Vì vậy, đào tạo mỹ thuật thực chất là đào tạo đội ngũ góp phần xây dựng diện mạo văn hóa và thẩm mỹ của xã hội hiện đại.
Khi các ngành mỹ thuật được nhìn nhận đúng vị trí và giá trị, sẽ có thêm điều kiện để thu hút người học trẻ, đồng thời hình thành đội ngũ nhân lực sáng tạo chất lượng cao cho công nghiệp văn hóa. Về lâu dài, đây cũng là nền tảng quan trọng để mỹ thuật Việt Nam phát triển theo hướng chuyên nghiệp hơn, tạo ra các sản phẩm vừa có giá trị nghệ thuật, vừa có tính ứng dụng".
Cơ sở giáo dục chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần phát triển ngành công nghiệp văn hóa
Chia sẻ về thực tiễn hoạt động đào tạo tại Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Nghệ An, thầy Ban cho biết: "Nhà trường không chỉ chú trọng trang bị kỹ năng nghề nghiệp cho người học mà còn hướng tới bồi dưỡng tư duy văn hóa, năng lực sáng tạo và ý thức gìn giữ, phát huy bản sắc dân tộc.
Chúng ta có thể tiếp cận xu hướng nghệ thuật thế giới, nhưng nếu không có nền tảng văn hóa dân tộc thì rất dễ bị hòa tan. Vì vậy, nhà trường chú trọng đưa chất liệu văn hóa truyền thống, nghệ thuật dân gian và bản sắc địa phương vào giảng dạy theo hướng hiện đại, khuyến khích sinh viên sáng tạo các sản phẩm nghệ thuật mang hơi thở đương đại nhưng vẫn giữ được tinh thần văn hóa Việt Nam.
Ngoài đào tạo trong nhà trường, Khoa Mỹ thuật cũng tăng cường các hoạt động thực tế, triển lãm, sáng tác cộng đồng và kết nối với các không gian văn hóa tại địa phương để sinh viên có cơ hội quan sát đời sống thực tiễn, tiếp xúc với di sản và phát triển cảm hứng sáng tạo từ chính chất liệu văn hóa Việt Nam.
Trong thời gian tới, nội dung đào tạo của khoa sẽ chú trọng hơn về ứng dụng công nghệ số và mỹ thuật đa phương tiện trong đào tạo để sinh viên thích ứng với xu hướng sáng tạo mới. Hiện nay, mỹ thuật không còn giới hạn ở tranh giá vẽ truyền thống mà mở rộng sang thiết kế số, truyền thông thị giác, sản phẩm sáng tạo trên nền tảng số.
Do đó, cần định hướng đào tạo sinh viên vừa có nền tảng mỹ thuật cơ bản vững chắc, vừa có khả năng ứng dụng công nghệ và tư duy hội nhập quốc tế, góp phần phát triển văn hóa Việt Nam, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ văn hoá, xuất bản phẩm truyền thông và đa phương tiện,...".
Ở khía cạnh khác, thầy Ban bày tỏ, đặc thù đào tạo nghệ thuật có chi phí rất lớn. Không giống nhiều ngành học khác có thể đào tạo theo lớp đông, nghệ thuật cần đào tạo cá nhân hóa hoặc nhóm nhỏ. Có những chuyên ngành một giảng viên chỉ có thể hướng dẫn vài sinh viên để bảo đảm chất lượng. Ngoài ra, nhà trường còn phải đầu tư hệ thống phòng tập, sân khấu, nhạc cụ, xưởng thực hành, thiết bị ghi hình, âm thanh, ánh sáng… Chi phí đào tạo cao nhưng học phí lại khó tăng tương ứng do điều kiện của người học.
"Vì vậy, cần có chính sách học bổng hoặc hỗ trợ học phí cho người học ngành nghệ thuật, nhất là các ngành nghệ thuật truyền thống đang cần bảo tồn và phát triển. Nếu không có chính sách đủ mạnh thì rất khó thu hút người trẻ theo học lâu dài. Cùng với đó là cần có cơ chế đầu tư riêng cho cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo, bởi đây là lĩnh vực không thể đào tạo chay, mà phải gắn với không gian thực hành, biểu diễn và trải nghiệm nghề nghiệp thực tế.
Ngoài ra, chính sách đãi ngộ cũng cần phù hợp hơn để thu hút nghệ sĩ, chuyên gia đầu ngành tham gia giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo bởi tính đặc thù về năng lực truyền nghề và kinh nghiệm thực tiễn", Trưởng khoa, Khoa Mỹ thuật, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Nghệ An đề xuất.
Về phía Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai, Thạc sĩ Nguyễn Văn Hiếu cho biết, nhà trường có thuận lợi là đào tạo một số ngành gắn với nhu cầu thực tiễn hiện nay như thiết kế đồ họa, mỹ thuật ứng dụng hay gốm nghệ thuật. Đồng Nai cũng là địa phương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có hoạt động sản xuất thủ công mỹ nghệ và công nghiệp sáng tạo tương đối phát triển, nên sinh viên có nhiều cơ hội tiếp cận môi trường nghề nghiệp thực tế.
"Tuy nhiên, khó khăn lớn là nhiều ngành mỹ thuật hiện nay vẫn chưa được xã hội nhìn nhận đầy đủ về giá trị nghề nghiệp. Không ít phụ huynh và học sinh còn cho rằng học mỹ thuật khó ổn định việc làm hoặc chỉ phù hợp với những người có năng khiếu đặc biệt. Điều đó khiến công tác tuyển sinh ở một số ngành như điêu khắc hay hội họa gặp nhiều thách thức hơn.
Ngoài ra, mỹ thuật là lĩnh vực đòi hỏi quá trình đào tạo thực hành liên tục, phụ thuộc nhiều vào không gian sáng tác, nguyên vật liệu và sự hướng dẫn trực tiếp từ giảng viên. Với các ngành như gốm hay điêu khắc, chi phí đào tạo thực tế rất cao do cần xưởng thực hành, vật liệu tạo hình, lò nung và hệ thống thiết bị chuyên dụng. Trong khi đó, quy mô đào tạo của nhiều ngành mỹ thuật thường không lớn, số lượng người học ít nên việc cân đối nguồn lực đầu tư, duy trì trang thiết bị và tổ chức đào tạo chuyên sâu cũng gặp không ít áp lực", thầy Hiếu cho hay.
Do đó, thầy Hiếu cho rằng, các chính sách đầu tư trọng điểm cho các ngành mỹ thuật đặc thù, đặc biệt là cơ sở vật chất phục vụ thực hành sáng tác cần được đẩy mạnh hơn trong thời gian tới. Đồng thời, tăng cường kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp văn hóa, không gian sáng tạo, khu du lịch và các làng nghề để mở rộng đầu ra cho sinh viên.
Mặt khác, cần đẩy mạnh thực hiện các chính sách truyền thông để xã hội hiểu rằng mỹ thuật hiện nay không chỉ là lĩnh vực sáng tác thuần túy mà còn liên quan trực tiếp đến công nghiệp văn hóa, thiết kế sáng tạo và phát triển kinh tế, văn hóa địa phương.
Cuối cùng, thầy Hiếu nhấn mạnh rằng: “Với các lĩnh vực như gốm, điêu khắc hay mỹ thuật ứng dụng, cơ sở đào tạo nghệ thuật không chỉ đào tạo người làm nghề mà còn góp phần giữ gìn “ký ức văn hóa” và bản sắc thẩm mỹ của từng vùng miền.
Khi công nghiệp văn hóa đang được chú trọng đầu tư, cùng với những chính sách, chủ trương về phát triển văn hóa Việt Nam, nguồn nhân lực trong lĩnh vực mỹ thuật sẽ không chỉ phục vụ nghệ thuật thuần túy mà còn tham gia vào du lịch văn hóa, thiết kế không gian công cộng, sản phẩm lưu niệm, kiến trúc cảnh quan và nhiều ngành sáng tạo khác”.