Đề xuất mở rộng đối tượng nhận học bổng STEM ngoài tuyển chọn đầu vào để tránh bỏ sót nhân tài

17/05/2026 06:23
Hồng Mai

GDVN - Theo lãnh đạo một số khoa đào tạo Toán - Tin tại trường đại học, tác động quan trọng của chính sách học bổng STEM góp phần thay đổi nhận thức xã hội về vai trò của các ngành học này.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang trình Chính phủ dự thảo Nghị định Quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược học bổng STEM nhằm hỗ trợ người học STEM trong mùa tuyển sinh đại học năm 2026.

Ở bậc đại học, mức học bổng dao động từ 3,7 - 5,5 triệu đồng/tháng; ở bậc sau đại học, mức học bổng cao hơn, tối đa 8,4 triệu đồng/tháng.

Học bổng STEM góp phần thay đổi nhận thức về ngành khoa học cơ bản

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quý Mười - Trưởng khoa, Khoa Toán - Tin, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) bày tỏ, dự thảo nghị định về học bổng STEM thể hiện rõ định hướng đầu tư trọng điểm vào nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên công nghệ.

Thứ nhất, về chất lượng đầu vào, mức học bổng từ 3,7 đến 5,5 triệu đồng/tháng cho bậc đại học là tín hiệu rõ ràng cho thấy nhà nước sử dụng chính sách học bổng như một công cụ định hướng dòng chảy nhân lực chất lượng cao. Đây không chỉ là hỗ trợ tài chính, mà còn thể hiện sự khẳng định vai trò, giá trị của các ngành STEM trong chiến lược phát triển quốc gia.

Thầy Mười dự báo sẽ có sự dịch chuyển đáng kể trong lựa chọn ngành học của nhóm học sinh giỏi toàn diện, đặc biệt là những em có thế mạnh về Toán và Khoa học tự nhiên. Thay vì tập trung vào một số ngành “hot” mang tính thời điểm, các em sẽ có thêm động lực mạnh mẽ để theo đuổi những lĩnh vực nền tảng, mang tính chiến lược.

Bên cạnh đó, chính sách cũng tạo ra áp lực cạnh tranh tích cực giữa các cơ sở đào tạo STEM, buộc các trường phải liên tục nâng cao chất lượng chương trình, đội ngũ giảng viên và môi trường học thuật để trở thành điểm đến xứng đáng đối với những học sinh tài năng.

Thứ hai, về định hướng nghề nghiệp, chính sách góp phần tái định vị giá trị xã hội của các ngành khoa học cơ bản, gửi đi thông điệp rõ ràng rằng việc trở thành nhà toán học, nhà vật lý hay kỹ sư công nghệ chiến lược không còn là lựa chọn “khó và khổ”, mà là con đường “khó và vinh dự” được nhà nước ưu tiên đầu tư. Từ đó, học sinh và phụ huynh có cái nhìn dài hạn hơn, gắn kết năng lực cá nhân với nhu cầu phát triển của đất nước một cách hữu cơ.

Thứ ba, chính sách tạo ra tác động tích cực về mặt tâm lý đối với người học, đặc biệt là cảm giác được ghi nhận và kỳ vọng. Khi nhận học bổng STEM, sinh viên không chỉ được hỗ trợ về tài chính mà còn cảm nhận rõ sự tin tưởng, đầu tư của nhà nước đối với năng lực và tiềm năng của bản thân.

thay-pham-quy-muoi.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quý Mười – Trưởng khoa, Khoa Toán - Tin, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng). Ảnh: NVCC.

Cùng bàn về nội dung này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Văn Hải - Trưởng khoa, Khoa Toán - Tin, Trường Đại học Đà Lạt đánh giá, ngành Toán học được đưa vào danh mục các ngành dự kiến được cấp học bổng là tín hiệu tích cực, thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với các ngành khoa học cơ bản và nguồn nhân lực STEM chất lượng cao.

Chính sách này không chỉ giúp giảm áp lực tài chính cho sinh viên mà còn tạo động lực để những học sinh có tư duy logic, tư duy định lượng và yêu thích khoa học mạnh dạn lựa chọn ngành Toán học.

Tác động quan trọng của chính sách bên cạnh hỗ trợ tài chính là góp phần thay đổi nhận thức xã hội về vai trò của ngành Toán học. Đây là ngành khoa học nền tảng, giữ vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực hiện đại như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, học máy, tối ưu hóa và công nghệ thông tin. Vì vậy, chính sách học bổng phù hợp sẽ tạo thêm điều kiện để ngành Toán học thu hút học sinh có năng lực cao theo đuổi các lĩnh vực STEM.

“Nếu học bổng được triển khai đồng bộ với công tác hướng nghiệp, đổi mới chương trình đào tạo, tăng cường kết nối doanh nghiệp và mở rộng cơ hội nghiên cứu, thực tập cho sinh viên, chính sách sẽ tạo ra tác động tích cực và lâu dài. Đây là bước đi cần thiết nhằm khẳng định vai trò chiến lược của Toán học và các ngành khoa học cơ bản trong phát triển nguồn nhân lực STEM của đất nước.

Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, cần tính đến sự khác biệt về chi phí sinh hoạt giữa các địa phương cũng như đặc thù của từng bậc đào tạo. Với sinh viên, mức học bổng từ 3,7-5,5 triệu đồng là động lực tích cực.

Với mức học bổng tối đa 8,4 triệu cho người học sau đại học có để đáp ứng chi phí học tập cơ bản. Song, nhóm đối tượng này, đặc biệt là nghiên cứu sinh, ngoài học phí và sinh hoạt phí vẫn cần thêm hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu, công bố khoa học và tham gia hội thảo.

Đây là bước khởi đầu tích cực, nhưng trong quá trình triển khai cần tiếp tục đánh giá thực tiễn để điều chỉnh phù hợp, đồng thời kết hợp học bổng với các chính sách hỗ trợ nghiên cứu và cơ hội việc làm sau tốt nghiệp”, thầy Hải khẳng định.

Cần chuyển từ đánh giá tài năng “tĩnh” sang “động”

Đối tượng được xét nhận học bổng STEM gồm 2 nhóm.

Nhóm thứ nhất là các thí sinh đạt giải Nhất, Nhì, Ba trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia hoặc quốc tế (thời gian đạt giải không quá 3 năm).

Nhóm thứ hai là các thí sinh có tổng điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông trong tổ hợp xét tuyển gồm môn Toán và 2 môn trong số 4 môn Lý, Hóa, Sinh, Tiếng Anh từ 22,5 điểm trở lên (không tính điểm ưu tiên, điểm cộng, không tính điểm quy đổi môn tiếng Anh nếu thí sinh sử dụng chứng chỉ Ngoại ngữ để miễn thi tốt nghiệp). Nhóm thí sinh này cũng phải bảo đảm nằm trong nhóm 30% thí sinh đạt điểm trúng tuyển cao nhất cùng nhóm ngành trên phạm vi toàn quốc.

Bên cạnh đó, để duy trì học bổng trong toàn khóa, người học phải đáp ứng các yêu cầu về kết quả học tập, tiến độ tích lũy tín chỉ, kỷ luật học tập và đối với bậc sau đại học là năng lực nghiên cứu khoa học.

Trưởng khoa, Khoa Toán - Tin, Trường Đại học Đà Lạt cho hay các tiêu chí xét chọn trong dự thảo được xây dựng khá chặt chẽ và có cơ sở, phù hợp với mục tiêu thu hút người học có năng lực tốt vào các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.

Đối với nhóm xét theo điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông, mức từ 22,5 điểm trở lên kèm điều kiện thuộc top 30% điểm trúng tuyển cao nhất của nhóm ngành là cách tiếp cận nhằm bảo đảm chất lượng đầu vào. Tuy nhiên, tiêu chí này có thể còn khá cao so với mặt bằng chung ở một số địa phương và cơ sở đào tạo. Vì vậy, quá trình triển khai cần được đánh giá thực tiễn để vừa lựa chọn đúng người học có năng lực, vừa tránh thu hẹp quá mức đối tượng được nhận học bổng.

Các điều kiện duy trì học bổng trong toàn khóa cũng là cần thiết nhằm tạo động lực để sinh viên duy trì kết quả học tập, tích lũy tín chỉ đúng tiến độ và phát triển năng lực nghiên cứu. Tuy nhiên, tiêu chí duy trì cần được thiết kế theo hướng hợp lý, mang tính khuyến khích, tránh tạo áp lực quá lớn đối với người học, đặc biệt ở các ngành khoa học cơ bản có yêu cầu học thuật cao.

img-8202-1-scaled-e17647663842233.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Văn Hải - Trưởng khoa, Khoa Toán - Tin, Trường Đại học Đà Lạt. Ảnh: website nhà trường

Trong khi đó, Trưởng khoa, Khoa Toán - Tin, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) nhận định: “Bộ tiêu chí này được xây dựng bài bản, chủ đích lựa chọn người học với mục tiêu “đãi cát tìm vàng” và nuôi dưỡng đội ngũ nhân lực tinh hoa phục vụ chiến lược phát triển dài hạn của đất nước.

Bộ tiêu chí có tính định lượng cao, minh bạch, hạn chế sự can thiệp mang tính chủ quan trong quá trình xét chọn. Cơ chế sàng lọc kép (điểm số và top 30%) là giải pháp hiệu quả nhằm bảo đảm chất lượng đầu vào và duy trì mặt bằng học thuật của người nhận học bổng.

Về những điểm cần cân nhắc để hoàn thiện hơn, theo thầy Mười, tiêu chí dành cho nhóm 2 hiện vẫn phụ thuộc khá lớn vào kết quả thi cử. Trong khi đó, đối với nhiều ngành STEM, đặc biệt là các lĩnh vực đòi hỏi tư duy sáng tạo, năng lực lập trình, khả năng tự học và giải quyết vấn đề, điểm số chưa thể phản ánh đầy đủ năng lực thực chất của người học.

Do đó, chính sách có thể vô tình bỏ lỡ những “viên ngọc thô” - những học sinh sở hữu tư duy nổi trội, tố chất nghiên cứu tốt nhưng chưa có điều kiện học tập, ôn luyện tương xứng, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi hoặc vùng còn nhiều khó khăn.

Thầy Mười cũng cho rằng: “Dự thảo chỉ nêu các thí sinh đạt giải Nhất, Nhì, Ba ở các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế, trong khi trên thực tế còn nhiều học sinh được tuyển thẳng nhờ các thành tích nổi bật khác đang bị “bỏ trống”.

Điều này phản ánh một vấn đề sâu hơn về triết lý đánh giá năng lực, chính sách dường như đang mặc định chỉ có một con đường để xác định và ghi nhận tài năng. Trong khi đó, xu hướng giáo dục hiện đại lại ngày càng đề cao sự đa dạng trong cách tiếp cận và phát hiện năng lực người học”.

Bên cạnh đó, quy định về môn Tiếng Anh đang tạo ra nghịch lý đối với học sinh. Nhiều em được miễn thi tốt nghiệp môn Tiếng Anh nhờ chứng chỉ quốc tế, nhưng dự thảo lại yêu cầu cần có điểm thi và chưa có cơ chế xét điểm quy đổi.

Điều này khiến những học sinh có năng lực ngoại ngữ vượt trội lại mất lợi thế chỉ vì được miễn thi. Trong khi đó, Tiếng Anh là công cụ quan trọng trong học tập và nghiên cứu STEM.

Ngoài ra, dự thảo hiện chưa tạo cơ hội cho những sinh viên “nở muộn”. Chính sách đang vận hành theo mô hình đánh giá tài năng mang tính “tĩnh”, tức năng lực gần như được xác định một lần ở thời điểm tuyển sinh.

Nếu không đạt tiêu chí đầu vào để nhận học bổng, sinh viên sẽ không có cơ hội được xét cấp bổ sung, dù sau đó đạt thành tích học tập xuất sắc. Trong khi đó, nhiều nghiên cứu cho thấy các phẩm chất quan trọng như sự kiên trì, sáng tạo hay năng lực nghiên cứu thường chỉ bộc lộ rõ sau một quá trình học tập ở đại học. Vì vậy, cần có cơ chế ghi nhận và trao cơ hội cho những “nhân tố bất ngờ” này.

Để khắc phục những bất cập trên, theo thầy Mười, cần bổ sung một kênh xét tuyển mở thông qua hội đồng chuyên môn của các trường đại học. Thí sinh và cả sinh viên từ năm hai trở đi có thể nộp hồ sơ năng lực, thư giới thiệu hoặc tham gia phỏng vấn để được xét cấp học bổng.

Mỗi trường có thể được phân bổ khoảng 5-10% tổng suất học bổng cho kênh này. Cơ chế đó sẽ giúp chuyển mô hình đánh giá tài năng từ “tĩnh” sang “động”, không chỉ dựa vào kết quả ở một thời điểm mà ghi nhận cả quá trình phát triển của người học. Đây cũng là cơ hội cho học sinh có chứng chỉ quốc tế hoặc những sinh viên “nở muộn” được ghi nhận đúng năng lực.

Mặt khác, áp lực duy trì thành tích học tập cũng là vấn đề cần được nhìn nhận linh hoạt hơn. Việc đặt điều kiện duy trì học bổng dựa trên kết quả học tập là cần thiết, tuy nhiên nếu quá nặng về điểm số theo cách cứng nhắc, điều này có thể khiến sinh viên lựa chọn “an toàn”, ngại theo đuổi những hướng nghiên cứu mới hoặc có độ rủi ro cao - trong khi đây lại là bản chất của sáng tạo khoa học.

Từ đó, cần có cơ chế đánh giá mang tính “bao dung với thất bại chính đáng”. Chẳng hạn, nếu sinh viên có kết quả học tập giảm sút trong một học kỳ vì đang theo đuổi một đề tài nghiên cứu thử nghiệm nhưng có tiềm năng, các em cần được hội đồng chuyên môn xem xét hỗ trợ thay vì bị cắt học bổng ngay lập tức.

Nhiều đại học hàng đầu thế giới như Stanford University hay Massachusetts Institute of Technology đều xây dựng văn hóa học thuật chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, bởi họ hiểu rằng đổi mới sáng tạo luôn gắn với thử nghiệm và cả thất bại. Điều chúng ta cần hướng tới là đào tạo những người trẻ dám nghĩ, dám làm, dám theo đuổi các ý tưởng mới, thay vì chỉ tạo ra những “cỗ máy điểm số”.

604800326-1297420065759048-4994606477840478159-n.jpg
Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng. Ảnh: website nhà trường

Để chính sách học bổng STEM phát huy hiệu quả lâu dài, thầy Mười đề xuất, cần xây dựng một hệ sinh thái phát triển nhân tài đồng bộ, theo chuỗi: tuyển chọn - nuôi dưỡng - giữ chân - sử dụng - phát triển - phản hồi chính sách.

Đầu tiên, cần xem học bổng là hạt nhân của một hệ sinh thái đào tạo nhân tài STEM. Bên cạnh hỗ trợ tài chính, cần đầu tư mạnh cho các khoa, trường trọng điểm thông qua phòng thí nghiệm hiện đại, quỹ nghiên cứu cho sinh viên xuất sắc, chương trình thực tập tại viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và cơ chế thu hút các nhà khoa học đầu ngành tham gia giảng dạy, hướng dẫn. Đồng thời, nên tạo điều kiện để sinh viên được đề xuất và thực hiện các dự án nghiên cứu nhỏ dưới sự hỗ trợ của giảng viên nhằm rèn luyện tư duy độc lập và năng lực nghiên cứu.

Tiếp đó, cần mở rộng linh hoạt các kênh tuyển chọn theo hướng chuyển từ mô hình đánh giá “tĩnh” sang “động”. Bên cạnh tiêu chí cứng hiện nay, các trường đại học nên được trao quyền xét tuyển một tỷ lệ nhất định thông qua hồ sơ năng lực, phỏng vấn học thuật hoặc thành tích.

Chính sách cũng cần gắn chặt với chiến lược phát triển nhân lực quốc gia nhằm hạn chế tình trạng “chảy máu chất xám” sau đào tạo. Theo đó, cần có cơ chế kết nối sinh viên với nhu cầu nhân lực của các tập đoàn công nghệ, viện nghiên cứu và cơ quan nhà nước ngay từ khi còn trên ghế nhà trường.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh truyền thông để thay đổi nhận thức xã hội về các ngành STEM. Việc tôn vinh các nhà khoa học trẻ, các tấm gương thành công từ lĩnh vực STEM sẽ góp phần tạo động lực, khơi dậy niềm tự hào và khát vọng cống hiến trong thế hệ trẻ.

Đặc biệt, cần thiết lập cơ chế giám sát và phản hồi thường xuyên để liên tục hoàn thiện chính sách. Nên thành lập hội đồng tư vấn độc lập cho chương trình học bổng STEM nhằm định kỳ rà soát hiệu quả thực thi, tiếp nhận phản hồi từ cơ sở và đề xuất điều chỉnh phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ và nhu cầu nhân lực trong thực tiễn.

Hồng Mai