NCS có 3 bài báo WoS/Scopus được miễn phản biện độc lập: Trường đại học đánh giá là bước tiến lớn

25/05/2026 06:27
Mạnh Dũng

GDVN - Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, việc nghiên cứu sinh có 3 bài báo WoS/Scopus được miễn phản biện độc lập là một điểm sáng lớn, tiệm cận với mô hình đào tạo tiến sĩ của các quốc gia tiên tiến trên thế giới.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến rộng rãi về dự thảo Thông tư ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học.

Một điểm mới đáng chú ý là dự thảo lần đầu tiên đưa ra cơ chế miễn phản biện độc lập đối với luận án có kết quả nghiên cứu xuất sắc đạt chuẩn quốc tế cao. Theo đó, nghiên cứu sinh được miễn quy trình phản biện độc lập nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện: Có ít nhất 3 bài báo khoa học là kết quả nghiên cứu liên quan trực tiếp đến nội dung luận án, được công bố trên tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc Scopus, trong đó có ít nhất 2 bài thuộc nhóm Q1; Nghiên cứu sinh là tác giả đứng tên đầu hoặc tác giả liên hệ của các bài báo này; Các bài báo được công bố trong thời gian không quá 60 tháng tính đến thời điểm tổ chức đánh giá luận án ở đơn vị chuyên môn.

Theo lãnh đạo một số cơ sở giáo dục đại học, đây là bước tiến lớn, đánh dấu việc chuyển từ quản lý quy trình sang quản lý chất lượng đầu ra và trách nhiệm giải trình của cơ sở đào tạo.

Chuyển từ quản lý nặng về thủ tục, quy trình sang quản lý chất lượng thực chất

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Quách Thanh Hải - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, dự thảo Thông tư mang tính cấp thiết cao trong bối cảnh hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đang bước vào giai đoạn đổi mới mạnh mẽ theo hướng tự chủ đại học, hội nhập quốc tế và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học.

Điều này cũng phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/08/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đồng thời, dự thảo cũng bảo đảm sự phù hợp với Luật Giáo dục số 123/2025/QH15, Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 và Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (Luật số 93/2025/QH15), cùng các văn bản hướng dẫn thi hành, để tạo hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch và khả thi trong tổ chức tuyển sinh, đào tạo sau đại học.

Điểm đáng ghi nhận là dự thảo Thông tư đã tiếp cận theo hướng hiện đại hơn, chuyển từ quản lý nặng về thủ tục, quy trình sang quản lý chất lượng thực chất, chuẩn đầu ra và trách nhiệm giải trình. Đây là xu thế phù hợp với thông lệ quốc tế và cũng đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ hiện nay.

Nội dung của dự thảo Thông tư rất phù hợp với chính sách, định hướng phát triển công tác đào tạo sau đại học của các cơ sở giáo dục đại học, trong đó có Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

thay-quach-thanh-hai.jpg
Tiến sĩ Quách Thanh Hải - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Website nhà trường.

Từ góc nhìn của đơn vị có đào tạo sau đại học, thầy Hải cho hay, việc dự thảo chuyển mạnh từ quản lý quy trình đào tạo sang quản lý chất lượng đào tạo, chuẩn đầu ra và trách nhiệm giải trình của cơ sở đào tạo là điểm đổi mới rất quan trọng. Đây được xem là thay đổi mang tính nền tảng trong quản trị đào tạo sau đại học.

Cụ thể, điều này giúp trường đại học có không gian tự chủ lớn hơn, nhưng đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm cao hơn về chất lượng đào tạo. Về lâu dài, cách tiếp cận này sẽ thúc đẩy các trường đại học thay đổi tư duy trong công tác đào tạo sau đại học. Chương trình đào tạo sẽ phải được thiết kế linh hoạt và liên thông giữa các trình độ đào tạo, gắn với năng lực nghiên cứu, nhu cầu xã hội và chuẩn quốc tế.

Mặt khác, sự thay đổi này cũng sẽ tác động mạnh đến toàn bộ quá trình đào tạo sau đại học, từ tuyển sinh, tổ chức đào tạo, hướng dẫn luận văn, luận án đến đánh giá đầu ra của các cơ sở giáo dục đại học. Từ đó, các trường phải đầu tư nhiều hơn cho đội ngũ giảng viên, nâng cao năng lực nghiên cứu, hệ thống đảm bảo chất lượng nội bộ, cơ sở vật chất và phòng thí nghiệm. Đây là động lực quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học của Việt Nam theo hướng thực chất và hội nhập quốc tế sâu hơn trong thời gian tới.

Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng khẳng định, trong bối cảnh giáo dục đại học đang chuyển mạnh sang tự chủ và hội nhập quốc tế việc đổi mới quy trình đào tạo sau đại học là yêu cầu cần thiết. Nội dung trong dự thảo không chỉ cập nhật các mô hình đào tạo hiện đại như đào tạo tích hợp, trực tuyến, liên kết quốc tế mà còn siết chặt chất lượng đào tạo, công bố khoa học và liêm chính học thuật. Đây là bước điều chỉnh quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ theo hướng thực chất hơn, minh bạch hơn và tiệm cận chuẩn quốc tế.

Theo thầy Quỳnh, điểm đổi mới quan trọng của dự thảo là chuyển từ quản lý quy trình sang quản lý chất lượng đầu ra và trách nhiệm giải trình. Điều này có nghĩa là thay vì chỉ kiểm soát thủ tục đào tạo, Bộ sẽ tập trung vào năng lực thực sự của người học, chất lượng nghiên cứu và trách nhiệm của cơ sở đào tạo.

Trong thời gian tới, các trường đại học sẽ phải đầu tư mạnh hơn cho môi trường nghiên cứu, công bố khoa học, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên hướng dẫn. Đồng thời, công tác đào tạo sau đại học sẽ dần chuyển từ việc dạy để hoàn thành chương trình sang việc đào tạo để tạo ra sản phẩm nghiên cứu chất lượng cao.

thay-quynh-dh-lac-hong-923-4539.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng. Ảnh website trường

Cùng chung ý kiến, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Thắng - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đánh giá dự thảo Thông tư đã thể hiện rõ tư duy tinh gọn về mặt thể chế, khắc phục triệt để các quy định chồng chéo, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, thuận lợi cho các cơ sở giáo dục đại học áp dụng.

Hơn nữa, dự thảo đã quy định rõ ràng quyền hạn gắn liền với trách nhiệm giải trình của các bên liên quan, xây dựng các quy định hoàn toàn phù hợp và thể chế hóa một cách đồng bộ theo tinh thần của Luật Giáo dục đại học hiện hành.

thay-thang-1.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Thắng - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.

Rút ngắn thời gian bảo vệ luận án, tạo động lực mạnh cho việc công bố quốc tế chất lượng cao

Một điểm mới đáng chú ý là dự thảo lần đầu tiên đưa ra cơ chế miễn phản biện độc lập đối với luận án có kết quả nghiên cứu xuất sắc đạt chuẩn quốc tế cao. Theo thầy Bùi Hoài Thắng, quy định này áp dụng các nguyên lý phù hợp chuẩn mực quốc tế về giảm thủ tục và thời gian cho những nghiên cứu sinh có thành tích công bố khoa học xuất sắc. Đây là một điểm sáng lớn, tiệm cận với mô hình đào tạo tiến sĩ của các quốc gia tiên tiến trên thế giới, tạo động lực mạnh mẽ cho việc công bố quốc tế đỉnh cao.

Dự báo trong thời gian sắp tới, việc đào tạo tiến sĩ của các cơ sở giáo dục đại học sẽ có nhiều chuyển biến mạnh mẽ theo hướng gia tăng số công bố quốc tế chất lượng.

nghien-cuu-khoa-hoc.jpg
Ảnh minh họa: Website Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh cho rằng, quy định miễn phản biện độc lập cho nghiên cứu sinh có ít nhất 03 bài báo WoS/Scopus, trong đó có 02 bài Q1, là một điểm mới rất tích cực. Quy định này giúp rút ngắn thời gian bảo vệ luận án, giảm áp lực thủ tục cho nghiên cứu sinh có thành tích nghiên cứu xuất sắc và tạo động lực mạnh cho việc công bố quốc tế chất lượng cao. Đồng thời, nội dung này cũng sẽ thúc đẩy phong trào nghiên cứu khoa học đỉnh cao tại các trường đại học, khuyến khích giảng viên và nghiên cứu sinh đầu tư nghiêm túc cho nghiên cứu và nâng cao vị thế học thuật của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thầy Quỳnh cũng đề xuất Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có lộ trình áp dụng phù hợp để các cơ sở đào tạo thích nghi dần với những yêu cầu mới. Đồng thời, nên phân tầng yêu cầu công bố khoa học theo từng lĩnh vực đào tạo vì đặc thù giữa các ngành rất khác nhau.

Ngoài ra, cần tăng cường cơ chế hỗ trợ nghiên cứu sinh và giảng viên trẻ về kinh phí nghiên cứu, công bố quốc tế và xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh. Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn cụ thể để kiểm soát "tạp chí săn mồi" và hoàn thiện hệ thống dữ liệu số phục vụ công tác quản lý, hậu kiểm và bảo đảm liêm chính học thuật.

Còn theo Tiến sĩ Quách Thanh Hải, đây là một điểm mới mang tính khuyến khích học thuật rất rõ nét, thể hiện cách tiếp cận đánh giá dựa trên kết quả nghiên cứu thực chất của nghiên cứu sinh. Quy định này trước hết sẽ tạo động lực rất lớn cho nghiên cứu sinh đầu tư nghiêm túc vào nghiên cứu khoa học ngay từ đầu, thay vì chỉ tập trung hoàn thành luận án theo yêu cầu hình thức. Khi các công bố quốc tế chất lượng cao đã được cộng đồng khoa học quốc tế phản biện và thừa nhận, việc giảm bớt một bước phản biện trong nước là hợp lý và giúp rút ngắn thời gian đào tạo.

Mặt khác, chính sách này cũng góp phần thúc đẩy văn hóa nghiên cứu khoa học đỉnh cao trong các cơ sở giáo dục đại học. Không chỉ nghiên cứu sinh mà cả giảng viên hướng dẫn cũng sẽ có động lực nâng cao năng lực nghiên cứu, tăng cường hợp tác quốc tế, xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh và hướng tới những công bố có chất lượng cao hơn thay vì chỉ chú trọng số lượng.

Tuy nhiên, để chính sách này phát huy hiệu quả, cần thường xuyên rà soát, có cơ chế kiểm soát phù hợp và có sự điều chỉnh cần thiết.

Thầy Hải cũng nhấn mạnh, mặc dù dự thảo đã được xây dựng khá toàn diện, hiện đại và tiệm cận thông lệ quốc tế, nhưng để bảo đảm tính khả thi và phù hợp thực tiễn triển khai, cần lưu ý một số vấn đề.

Thứ nhất, tiêu chí đánh giá chất lượng công bố khoa học nên phân loại rõ theo nhóm ngành (khoa học tự nhiên, kỹ thuật, y dược, khoa học xã hội và nhân văn) để tránh áp dụng một chuẩn duy nhất. Có thể quy định theo cấp độ tạp chí (quốc tế uy tín, khu vực, trong nước) và cho phép linh hoạt đối với ngành khoa học, xã hội và nhân văn.

Thứ hai, nên có cơ chế hỗ trợ phát triển năng lực nghiên cứu cho các cơ sở đào tạo còn hạn chế về nguồn lực, nhất là các trường địa phương hoặc trường mới mở các ngành đào tạo sau đại học, để bảo đảm thực hiện được các yêu cầu mới về công bố khoa học và đảm bảo chất lượng. Cần khuyến khích liên kết đào tạo – nghiên cứu giữa trường có thế mạnh và trường còn hạn chế nguồn lực để chia sẻ nguồn lực, phòng thí nghiệm, thư viện dữ liệu.

Thứ ba, cần quy định rõ hơn về hệ thống kiểm soát đạo văn, liêm chính học thuật và trách nhiệm pháp lý của các bên liên quan nhằm bảo đảm tính minh bạch và nâng cao uy tín học thuật.

Thứ tư, nên có lộ trình triển khai phù hợp (ví dụ: 3 năm đầu áp dụng linh hoạt, hoặc áp dụng cho các trường trọng điểm, sau đó chuẩn hóa dần) đối với một số quy định mới có yêu cầu cao, đặc biệt là quy định về công bố quốc tế, để các cơ sở đào tạo và người học có thời gian dần thích ứng.

Mạnh Dũng