Viện Hàn lâm KH&CN có nhiều chuyển biến về chất và hiệu quả nghiên cứu sau 1,5 năm thực hiện NQ 57

03/07/2026 06:24
Khánh Hòa

GDVN - Sau hơn 1,5 năm triển khai Nghị quyết 57, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt mục tiêu làm chủ công nghệ lõi, phát triển nhân lực chất lượng cao và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây được xem là văn kiện mang tính chiến lược, khẳng định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là ba trụ cột quyết định để đất nước vươn lên mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.

Sau hơn 1,5 năm triển khai, Nghị quyết 57 đã tạo động lực thúc đẩy nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở các bộ, ngành, địa phương. Xung quanh những kết quả bước đầu và định hướng triển khai Nghị quyết trong thời gian tới của viện nghiên cứu, phóng viên đã có cuộc trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đạt nhiều kết quả sau hơn 1,5 năm triển khai Nghị quyết 57

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh, sau hơn 1,5 năm triển khai Nghị quyết 57, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, khẳng định vai trò là đơn vị dẫn đầu cả nước về nghiên cứu cơ bản. Những kết quả này không chỉ là con số thống kê, mà còn phản ánh sự chuyển biến thực chất về chất lượng và hiệu quả nghiên cứu.

Về công bố khoa học và sở hữu trí tuệ, năm 2025, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã công bố hơn 2.300 công trình khoa học, trong đó có hơn 1.700 bài báo trên các tạp chí Scopus/Web of Science. Tỷ lệ công bố đạt 1,7 bài/tiến sĩ/năm, tương đương với các tổ chức nghiên cứu hàng đầu của các nước đang phát triển. Đặc biệt, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam được cấp 105 bằng sở hữu trí tuệ, dẫn đầu cả nước về số lượng sáng chế và giải pháp hữu ích. Viện hiện có 6/12 tạp chí được công nhận trong hệ thống Scopus và Web of Science, trong đó có 1 tạp chí đạt xếp hạng Q1; 2 tạp chí đạt xếp hạng Q2; 2 tạp chí xếp hạng Q3 và 1 tạp chí xếp hạng Q4.

Về làm chủ công nghệ chiến lược, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tập trung phát triển và làm chủ các công nghệ cốt lõi. Viện đang xúc tiến chuyển giao 112 công nghệ hiện có tới các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Đây là những bước tiến cụ thể hóa mục tiêu tự chủ công nghệ của quốc gia.

Về tổ chức bộ máy, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã hoàn thành việc sắp xếp từ 38 đầu mối xuống còn 25 đầu mối, giảm 35,6%. Bộ máy sau sắp xếp hoạt động ổn định và hiệu quả hơn, hướng đến tinh gọn, chuyên nghiệp.

Có thể khẳng định khoa học công nghệ không chỉ là động lực, mà đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Việc chuyển giao, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh vực vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ số đã và đang tạo ra giá trị kinh tế gia tăng và phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số cho các địa phương, doanh nghiệp.

thay-tuan.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh - Phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Ảnh: Nhân vật từng cung cấp.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh, Nghị quyết 57 đặt ra yêu cầu khoa học phải phục vụ trực tiếp phát triển kinh tế - xã hội. Nhận thức sâu sắc điều này, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã có sự điều chỉnh chiến lược rõ ràng.

Theo đó, viện tiếp tục phát huy thế mạnh truyền thống trong nghiên cứu cơ bản ở các lĩnh vực như: toán học, vật lý, hóa học, khoa học vật liệu, khoa học sự sống, khoa học trái đất, khoa học và công nghệ biển.

Bên cạnh đó, viện đẩy mạnh định hướng nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, tập trung vào các lĩnh vực có tính chiến lược, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng đã ban hành quyết định hình thành 10 hướng khoa học công nghệ trọng điểm để đáp ứng các yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút nhà khoa học trẻ tài năng

Không chỉ vậy, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết 57, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam luôn chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Viện xác định nguồn nhân lực là khâu đột phá, là nhân tố then chốt. Hiện nay, viện có gần 3.500 cán bộ nghiên cứu, trong đó có 53 giáo sư, 184 phó giáo sư và 915 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học.

Về đào tạo, trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam hiện có 2 cơ sở đào tạo cung cấp nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật chất lượng cao từ bậc cử nhân, thạc sĩ đến tiến sĩ là Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, Học viện Khoa học và Công nghệ.

Năm 2025, Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội tuyển mới 1.233 sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh, nâng quy mô đào tạo của trường lên 3.801 sinh viên. Trong đó có 3.499 sinh viên đại học, 217 học viên cao học và 85 nghiên cứu sinh.

Học viện Khoa học và Công nghệ có khoảng 800 học viên đang theo học, trong đó có hơn 200 nghiên cứu sinh.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh cho biết, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam xác định phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao là nhiệm vụ trọng tâm. Đây là nền tảng cho những đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Viện đặt mục tiêu mỗi năm thu hút từ 20-30 nhà khoa học trẻ tài năng, từng bước hình thành lực lượng nghiên cứu kế cận có trình độ chuyên môn cao.

Song song với đó, tập trung xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh theo chuẩn khu vực, phấn đấu đến năm 2030 có khoảng 20 nhóm nghiên cứu đủ năng lực dẫn dắt các hướng nghiên cứu mũi nhọn, giải quyết những bài toán khoa học và công nghệ có ý nghĩa chiến lược đối với đất nước.

Bên cạnh thu hút nhân lực, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nghiên cứu theo chuẩn quốc tế thông qua hợp tác với các cơ sở nghiên cứu, trường đại học và trung tâm khoa học hàng đầu trên thế giới. Mục tiêu là xây dựng đội ngũ các nhà khoa học có trình độ tương đương các nước tiên tiến, đủ khả năng làm chủ công nghệ, dẫn dắt các hướng nghiên cứu mới và nâng cao vị thế khoa học Việt Nam trên trường quốc tế.

t9-vast-day-manh-nghien-cuu.jpg
Ảnh minh họa: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Định hướng phát triển tập trung vào 4 nhiệm vụ chiến lược

Chia sẻ về định hướng phát triển trong giai đoạn tới, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết, viện sẽ tập trung vào 4 nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế. Từ ngày 1/4/2026, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chuyển từ đơn vị sự nghiệp thuộc Chính phủ sang đơn vị sự nghiệp thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đây là điều kiện quan trọng để viện phát huy tốt hơn vai trò là cơ quan nghiên cứu chiến lược, tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, việc này cũng góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, tạo môi trường thuận lợi để phát huy tiềm năng, khơi dậy sức sáng tạo của đội ngũ cán bộ khoa học, qua đó đóng góp hiệu quả vào sự phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia.

Thứ hai, phát triển công nghệ chiến lược. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam sẽ tập trung nguồn lực nghiên cứu, làm chủ các công nghệ lõi trong những lĩnh vực then chốt như: công nghệ vũ trụ, công nghệ sinh học, khoa học trái đất và khoa học - công nghệ biển, công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin, công nghệ lượng tử... Mục tiêu đến năm 2030 là làm chủ hoàn toàn khoảng 30 công nghệ lõi, tạo nền tảng cho phát triển các ngành công nghệ chiến lược, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững của đất nước.

Thứ ba, thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam sẽ tăng cường kết nối với doanh nghiệp, địa phương và các đối tác trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để hình thành chuỗi giá trị khép kín từ nghiên cứu, phát triển công nghệ đến sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường. Đồng thời, thúc đẩy các mô hình hợp tác công - tư trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, góp phần đưa kết quả nghiên cứu nhanh chóng chuyển hóa thành động lực phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ tư, nâng tầm quốc tế. Viện sẽ đẩy mạnh hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu thế giới nhằm nâng cao vị thế và trình độ nghiên cứu, phấn đấu thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Đông Nam Á.

"Với tinh thần không để một ngày lãng phí, một tuần chậm trễ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam quyết tâm hiện thực hóa Nghị quyết 57, đưa khoa học công nghệ trở thành động lực chính cho sự phát triển bứt phá của đất nước", Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Một số mục tiêu đến năm 2030 Nghị quyết 57-NQ/TW đề ra như sau:

- Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế. Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến.

- Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 55%; tỉ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt tối thiểu 50%. Quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP.

- Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần quan trọng xây dựng, phát triển giá trị văn hoá, xã hội, con người Việt Nam, đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,7.

- Kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%; bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển.

- Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân; có từ 40 - 50 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới; số lượng công bố khoa học quốc tế tăng trung bình 10%/năm; số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16 - 18%/năm, tỉ lệ khai thác thương mại đạt 8 - 10%.

Tầm nhìn đến năm 2045:

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển vững chắc, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; là một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tỉ lệ doanh nghiệp công nghệ số tương đương các nước phát triển; tối thiểu có 10 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến. Thu hút thêm ít nhất 5 tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu, sản xuất tại Việt Nam.

Khánh Hòa