6 điểm trọng tâm của Dự thảo quy định tiêu chuẩn đánh giá việc đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai

18/08/2026 06:22
Ngọc Mai

GDVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng Dự thảo Thông tư quy định tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá các cơ sở giáo dục trong triển khai thực hiện đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.

Dự thảo Thông tư có phạm vi áp dụng đối với các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên; đồng thời quy định việc tự đánh giá, sử dụng kết quả đánh giá, cải tiến chất lượng dạy và học tiếng Anh và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

1779326668371-1578959384738822322-8091271466997005586-c3370794b977bc722c6b6df3e26f81c9.jpg
Nguồn ảnh minh họa: Trường Tiểu học Thanh Trì (Hà Nội)

Dự thảo Thông tư có điểm mới, điểm trọng tâm sau:

Chuyển từ cách tiếp cận “dạy tiếng Anh” sang xây dựng môi trường sử dụng tiếng Anh trong trường học

Điểm trọng tâm của Dự thảo là không chỉ tập trung vào kết quả dạy và học môn Tiếng Anh, mà hướng tới xây dựng môi trường sử dụng tiếng Anh trong cơ sở giáo dục.

Theo Dự thảo, “đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai” được tiếp cận là một quá trình phát triển đồng bộ các điều kiện về chương trình, đội ngũ, môi trường giáo dục, học liệu, cơ sở vật chất, chuyển đổi số và các nguồn lực liên quan để tiếng Anh được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, phù hợp và hiệu quả trong dạy học, giao tiếp, quản lý và các hoạt động giáo dục.

Như vậy, trọng tâm không phải là yêu cầu mọi hoạt động trong nhà trường phải thực hiện bằng tiếng Anh ngay từ đầu, mà là từng bước hình thành môi trường sử dụng tiếng Anh phù hợp với điều kiện thực tế của từng cơ sở giáo dục.

Đây là cách tiếp cận có ý nghĩa quan trọng, bởi việc đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai là một quá trình phát triển lâu dài, cần có lộ trình, điều kiện bảo đảm và sự tham gia của nhiều thành tố trong nhà trường.

Thiết lập quy định để đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh thống nhất cho nhiều loại hình cơ sở giáo dục

Dự thảo xây dựng quy định để đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh áp dụng cho 5 nhóm cơ sở giáo dục: cơ sở giáo dục mầm non; cơ sở giáo dục phổ thông; cơ sở giáo dục đại học; cơ sở giáo dục nghề nghiệp; cơ sở giáo dục thường xuyên. Mỗi loại hình cơ sở giáo dục có bộ tiêu chuẩn, tiêu chí tương ứng được quy định tại các phụ lục riêng của Thông tư. Cách thiết kế này vừa tạo ra sự thống nhất trong toàn ngành, vừa bảo đảm việc đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh có sự phân hóa theo đặc điểm, chức năng và điều kiện hoạt động của từng loại hình cơ sở giáo dục. Đây cũng là cơ sở để việc triển khai Đề án được theo dõi, tổng hợp và đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh trên phạm vi toàn quốc theo một cách tiếp cận thống nhất.

Đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh theo 3 mức độ phát triển đạt được, thay vì chỉ xác định “đạt” hoặc “không đạt”

Một điểm mới quan trọng của Dự thảo là xác định kết quả triển khai theo 03 mức độ phát triển đạt được:

Mức độ 1 - Mức độ khởi đầu: cơ sở giáo dục đã hình thành các điều kiện cần thiết và tổ chức được các hoạt động cơ bản để triển khai đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai.

Mức độ 2 - Mức độ phát triển: cơ sở giáo dục đã củng cố, mở rộng các điều kiện và duy trì thường xuyên các hoạt động sử dụng tiếng Anh trong dạy học, giao tiếp và các hoạt động giáo dục.

Mức độ 3 - Mức độ phát triển cao: cơ sở giáo dục triển khai đồng bộ, hiệu quả các điều kiện và hoạt động, hình thành môi trường sử dụng tiếng Anh toàn diện, bền vững trong toàn đơn vị.

Cách tiếp cận theo mức độ cho phép mỗi cơ sở giáo dục xác định mình đang ở đâu, cần làm gì tiếp theo và có thể tiến tới mức độ nào, thay vì tạo ra tâm lý chạy theo một chuẩn chung trong cùng một thời điểm.

Đặc biệt, các mức độ được thiết kế theo nguyên tắc kế thừa: muốn đạt Mức độ 2 phải đạt Mức độ 1; muốn đạt Mức độ 3 phải đạt Mức độ 2 và đáp ứng đầy đủ yêu cầu của Mức độ 3.

559447294-122265815414188711-4726131746228038453-n.jpg
Nguồn ảnh: Nam Nguyễn

Đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh để cải tiến chất lượng, không phải để xếp hạng các cơ sở giáo dục

Một điểm nhấn xuyên suốt của Dự thảo là thay đổi mục đích của đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh. Đánh giá không nhằm tạo ra sự cạnh tranh hoặc áp lực giữa các cơ sở giáo dục. Dự thảo quy định rõ kết quả đánh giá không sử dụng để xếp hạng, so sánh hoặc tạo áp lực giữa các cơ sở giáo dục.

Thay vào đó, kết quả đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh được sử dụng để: cơ sở giáo dục xác định thực trạng; xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng; cơ quan quản lý theo dõi, tổng hợp và hỗ trợ; hoạch định chính sách; dự báo và phân bổ nguồn lực phù hợp với lộ trình của Đề án. Điều này thể hiện rõ quan điểm: đánh giá là công cụ để phát triển, không phải công cụ để tạo áp lực.

Tự đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh trở thành công cụ quản trị và cải tiến chất lượng của cơ sở giáo dục

Dự thảo không thiết kế hoạt động đánh giá theo hướng phát sinh một quy trình hành chính độc lập, mà yêu cầu cơ sở giáo dục tích hợp tự đánh giá vào kế hoạch nhiệm vụ năm học của đơn vị.

Quy trình cơ bản gồm: Xây dựng kế hoạch → phân công → rà soát thực trạng → thu thập thông tin, minh chứng → xác định mức độ đạt được → lập báo cáo → xây dựng kế hoạch cải tiến → tổ chức thực hiện → rà soát, cập nhật.

Cách tiếp cận này giúp kết quả đánh giá được gắn trực tiếp với hoạt động quản trị và kế hoạch phát triển của nhà trường, thay vì trở thành một bộ hồ sơ riêng chỉ phục vụ kiểm tra.

“Đánh giá xong phải cải tiến” là một yêu cầu bắt buộc

Dự thảo dành riêng Điều 8 để quy định về cải tiến chất lượng sau tự đánh giá. Trên cơ sở kết quả tự đánh giá, cơ sở giáo dục phải xây dựng và thực hiện kế hoạch cải tiến chất lượng; chủ động huy động, bố trí nguồn lực; định kỳ rà soát, cập nhật và điều chỉnh giải pháp để duy trì, nâng cao mức độ đạt được. Kết quả cải tiến lại trở thành căn cứ cho các chu kỳ tự đánh giá tiếp theo.

Như vậy, Dự thảo hình thành một chu trình liên tục: Đánh giá → xác định thực trạng → cải tiến → nâng cao mức độ → đánh giá lại.

Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt đối với quản lý chất lượng, giúp việc triển khai Đề án chuyển từ tư duy “thực hiện nhiệm vụ” sang tư duy “phát triển liên tục”.

Bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế của từng cơ sở giáo dục

Dự thảo không đặt ra yêu cầu tất cả các cơ sở giáo dục phải đạt cùng một mức độ trong cùng một thời điểm. Mục tiêu của đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh là xác định mức độ đạt được phù hợp với từng loại hình cơ sở giáo dục và lộ trình từng giai đoạn, đồng thời cho phép cơ sở giáo dục chủ động lựa chọn giải pháp cải tiến phù hợp với điều kiện thực tế, nguồn lực và định hướng phát triển của đơn vị.

Đây là yếu tố quan trọng để bảo đảm tính khả thi khi triển khai trên phạm vi toàn quốc, bởi điều kiện về đội ngũ, cơ sở vật chất, học liệu, công nghệ và môi trường sử dụng tiếng Anh giữa các cơ sở giáo dục còn rất khác nhau.

Giảm áp lực hành chính, tăng tính thiết thực của hoạt động đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh

Dự thảo đặt ra nguyên tắc đánh giá đơn giản, thiết thực, hiệu quả, ứng dụng công nghệ thông tin và không làm phát sinh thủ tục hành chính ngoài quy định. Đồng thời, cơ sở giáo dục được yêu cầu quản lý, lưu trữ hồ sơ, minh chứng phục vụ tự đánh giá và chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác, trung thực của hồ sơ, minh chứng và kết quả tự đánh giá.

Điểm cốt lõi ở đây là minh chứng phải phục vụ việc phản ánh thực chất kết quả triển khai, chứ không biến hoạt động tự đánh giá thành việc sưu tầm hồ sơ, giấy tờ.

Kết quả đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh được gắn với công tác quản lý và phân bổ nguồn lực

Một điểm đáng chú ý khác là kết quả đánh giá không chỉ được sử dụng trong nội bộ cơ sở giáo dục. Dữ liệu từ hoạt động đánh giá là căn cứ để cơ quan quản lý theo dõi, tổng hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu, hướng dẫn, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát, hoạch định chính sách, dự báo và phân bổ nguồn lực phù hợp với lộ trình triển khai Đề án.

Ở cấp địa phương, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo triển khai, bảo đảm các điều kiện cần thiết về đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và ngân sách; đồng thời ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ, huy động nguồn lực hợp pháp và nhân rộng các mô hình hiệu quả.

Như vậy, đánh giá được định hướng trở thành nguồn dữ liệu phục vụ quản trị và đầu tư, thay vì chỉ là hoạt động kiểm tra kết quả.

Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục

Dự thảo quy định người đứng đầu cơ sở giáo dục phê duyệt báo cáo tự đánh giá và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin, minh chứng và kết quả tự đánh giá. Cơ sở giáo dục đồng thời phải công khai báo cáo tự đánh giá và kế hoạch cải tiến chất lượng trên trang thông tin điện tử của đơn vị sau khi hoàn thiện. Điều này tạo ra sự kết nối giữa tự đánh giá - trách nhiệm giải trình - công khai – cải tiến chất lượng.

Tạo cơ sở để hình thành môi trường tiếng Anh toàn diện trong nhà trường

Mục tiêu cuối cùng của hệ thống tiêu chuẩn, tiêu chí không phải là đạt được một mức điểm hay hoàn thành một bộ hồ sơ, mà là thúc đẩy sự thay đổi thực chất trong môi trường giáo dục.

Dự thảo hướng tới việc tiếng Anh được sử dụng ngày càng rộng rãi và hiệu quả trong: dạy học, giao tiếp, các hoạt động giáo dục, quản lý, các hoạt động khác phù hợp với điều kiện của cơ sở giáo dục.

Qua đó, từng bước hình thành môi trường sử dụng tiếng Anh trong nhà trường và mở rộng việc dạy, học bằng tiếng Anh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và tăng cường hội nhập quốc tế.

image-28.jpg
Nguồn ảnh: Trần Trang

6 điểm trọng tâm của Dự thảo

Một là, lấy môi trường sử dụng tiếng Anh làm đích đến, không chỉ tập trung vào việc dạy và học môn Tiếng Anh.

Hai là, lấy mức độ phát triển chất lượng dạy và học tiếng Anh làm thước đo, với 03 mức độ từ khởi đầu đến phát triển cao, phù hợp với lộ trình thực hiện Đề án.

Ba là, lấy tự đánh giá và cải tiến chất lượng làm phương thức thực hiện, bảo đảm đánh giá phải dẫn đến hành động cải tiến cụ thể.

Bốn là, lấy dữ liệu đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh làm cơ sở quản lý, hỗ trợ và phân bổ nguồn lực, không dùng kết quả để xếp hạng, so sánh hoặc tạo áp lực giữa các cơ sở giáo dục.

Năm là, lấy tính phù hợp, khả thi, đơn giản và thiết thực làm nguyên tắc, để các cơ sở giáo dục có thể triển khai theo điều kiện thực tế và từng bước nâng cao mức độ đạt được.

Dự thảo Thông tư không đơn thuần xây dựng một bộ tiêu chuẩn để “đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh xem trường đã làm được gì”, mà hướng tới xây dựng một công cụ quản lý và cải tiến chất lượng, giúp mỗi cơ sở giáo dục xác định rõ thực trạng, biết mình đang ở mức độ nào, cần ưu tiên cải thiện nội dung gì và cần nguồn lực nào để tiến lên mức độ cao hơn trong dạy và học tiếng Anh.

Tinh thần xuyên suốt của Dự thảo có thể được khái quát: Không chạy theo xếp hạng – tập trung vào phát triển; không tạo thêm áp lực hành chính – tăng tính thiết thực; không yêu cầu đồng loạt – thực hiện theo lộ trình; không chỉ đánh giá kết quả – quan trọng hơn là tạo ra cải tiến thực chất.

Với cách tiếp cận này, việc đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học được định hướng là một quá trình phát triển liên tục của cơ sở giáo dục, trong đó mỗi nhà trường chủ động xác định điểm xuất phát, lựa chọn bước đi phù hợp và từng bước hình thành môi trường sử dụng tiếng Anh hiệu quả, bền vững.

Sáu là, tạo công cụ quản lý nhà nước thống nhất để tổ chức, theo dõi và điều hành việc triển khai Đề án.

Một giá trị quan trọng của Thông tư là thiết lập một khung đánh giá thống nhất để Bộ Giáo dục và Đào tạo và các địa phương có thể theo dõi được thực trạng, tiến độ và mức độ triển khai Đề án tại các cơ sở giáo dục.

Việc xác định cơ sở giáo dục đang ở Mức độ 1, Mức độ 2 hay Mức độ 3 giúp chuyển kết quả triển khai Đề án từ những thông tin định tính, phân tán thành thông tin có cấu trúc, có thể tổng hợp và theo dõi theo từng giai đoạn. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý có thể nhận diện rõ hơn những nơi đã có nền tảng, những nơi đang phát triển và những nơi đã hình thành môi trường sử dụng tiếng Anh ở mức độ cao.

Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, kết quả đánh giá tạo nguồn dữ liệu để theo dõi tình hình triển khai Đề án trên phạm vi toàn quốc; tổng hợp, phân tích sự phát triển theo từng loại hình cơ sở giáo dục và từng giai đoạn; nhận diện những khó khăn, hạn chế và những điều kiện cần được ưu tiên hỗ trợ. Đây cũng là căn cứ để Bộ hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, hoạch định chính sách, dự báo nhu cầu và tham mưu việc phân bổ nguồn lực phù hợp với lộ trình của Đề án. Dự thảo đã xác định rõ kết quả đánh giá được sử dụng để xây dựng cơ sở dữ liệu, hướng dẫn, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát, hoạch định chính sách, dự báo và phân bổ nguồn lực.

Đối với địa phương, kết quả xác định mức độ giúp Sở Giáo dục và Đào tạo và ủy ban nhân dân cấp tỉnh có căn cứ cụ thể để xây dựng kế hoạch triển khai theo từng giai đoạn, xác định những nhiệm vụ và điều kiện cần ưu tiên, nhất là về đội ngũ giáo viên, học liệu, cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ và các nguồn lực khác; đồng thời theo dõi, kiểm tra, hỗ trợ và nhân rộng những mô hình triển khai hiệu quả.


Đặc biệt, việc xác định mức độ không nhằm tạo ra bảng xếp hạng giữa các cơ sở giáo dục, mà nhằm cung cấp một “bản đồ thực trạng” để cơ quan quản lý biết cơ sở giáo dục đang ở đâu, cần hỗ trợ gì và bước phát triển tiếp theo là gì. Cách tiếp cận này phù hợp với nguyên tắc của Dự thảo là sử dụng đánh giá để phục vụ cải tiến chất lượng, quản lý và hỗ trợ, không sử dụng kết quả để xếp hạng, so sánh hoặc tạo áp lực giữa các cơ sở giáo dục.

Qua đó, Thông tư không chỉ là công cụ đánh giá ở cấp cơ sở giáo dục mà còn trở thành một công cụ quản trị để tổ chức thực hiện Đề án theo hướng có lộ trình, có dữ liệu, có trọng tâm và có khả năng điều chỉnh chính sách, nguồn lực theo thực tiễn.

Chi tiết dự thảo, xem TẠI ĐÂY.

Ngọc Mai