Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu giảm ít nhất 20% đầu mối các cơ sở giáo dục đại học công lập trước ngày 1/4/2027, Trong đó, sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học công lập theo hướng chuyển các cơ sở đa ngành, đa lĩnh vực về Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc địa phương quản lý.
Theo các chuyên gia giáo dục, giảm đầu mối không chỉ là giảm về số lượng, mà còn là cơ hội để tái cấu trúc, sắp xếp lại nguồn lực và nâng cao chất lượng. Đối với đại học đa lĩnh vực (đại học quốc gia, đại học vùng), Bộ Giáo dục và Đào tạo cần quyết liệt tiến hành rà soát để mỗi trường thành viên cần được phân công đào tạo lĩnh vực mà đơn vị đó có thế mạnh, không chồng chéo, đồng thời, đội ngũ giảng viên cần được sử dụng chung xuyên khoa, xuyên trường nhằm khai thác tốt hơn đội ngũ có chuyên môn sâu trong cùng một đại học.
Đại học quốc gia, đại học vùng cần rà soát các ngành đào tạo để tránh sự trùng lặp
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Tất Dong - nguyên Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, nguyên Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nhìn nhận, hệ thống giáo dục đại học không cần quá nhiều trường nhưng phải bảo đảm chất lượng, cần tập trung xây dựng những cơ sở đào tạo chất lượng cao, có khả năng tạo ra đội ngũ chuyên gia và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Giáo dục đại học phải trở thành nền tảng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hàng hóa và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.
Trong bối cảnh hội nhập, các đại học cần nâng cao vị thế và năng lực kết nối quốc tế.Để làm được điều này, đại học quốc gia, đại học vùng cần tiên phong tái cấu trúc nội bộ để tránh chồng chéo các ngành đào tạo giữa các trường thành viên, đơn vị thuộc/trực thuộc. Theo đó, mỗi đại học cần có sự phân công rõ ràng, các trường thành viên chỉ tập trung vào một lĩnh vực, không thể để nhiều trường thành viên cùng đào tạo một ngành.
Ví dụ, trong đại học quốc gia/đại học vùng có 7-8 trường thành viên nhưng có đến 4-5 đơn vị cùng đào tạo một mã ngành thì tái cấu trúc là điều đương nhiên. Đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất của mỗi lĩnh vực nên tập trung vào một trường có thế mạnh, không dàn trải. Việc tái cấu trúc phải được thực hiện triệt để để các đơn vị thành viên phát huy tối đa thế mạnh, tránh trùng lặp và lãng phí nguồn lực.
Ngoài ra, các trường trong cùng đại học nên sử dụng chung đội ngũ giảng viên xuyên khoa, xuyên trường. Nếu trong 5 trường thành viên, mỗi trường có một giáo sư về kinh tế, nhưng trong số đó chỉ có một người thực sự xuất sắc, người đó có thể tổ chức giảng dạy cho sinh viên của cả 5 trường, các giáo sư còn lại sẽ hỗ trợ sinh viên trải nghiệm thực tế tại phòng thí nghiệm, đề án, dự án. Cách làm này giúp sinh viên được tiếp cận với những giảng viên có năng lực nhất, đồng thời tận dụng tối đa nguồn lực giảng viên chất lượng cao. Quan trọng hơn, đội ngũ giảng viên giỏi sẽ có trách nhiệm đào tạo lớp kế cận, tạo ra sự phát triển bền vững.
Tuy nhiên, điều quan trọng các trường cần phải thay đổi mục tiêu đào tạo, từ "đào tạo để thi" sang "đào tạo để làm việc, sáng tạo và tạo ra sản phẩm". Chương trình đào tạo cần gắn với thực tiễn, đồng thời có sự tham gia của doanh nghiệp và các đối tác phù hợp để sinh viên được chuẩn bị tốt hơn cho yêu cầu của thị trường lao động.
Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Tất Dong - nguyên Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, nguyên Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương. Ảnh: Thùy Linh.
Cùng bàn về vấn đề này, một giáo sư là nguyên lãnh đạo viện nghiên cứu về giáo dục cho rằng, khi sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học cần tránh áp dụng giống mô hình đại học quốc gia hay đại học vùng. Bởi các mô hình này được hình thành trên cơ sở sáp nhập về mặt hành chính giữa các trường thành viên vốn đã tồn tại độc lập từ trước nên mang tính đặc thù riêng. Nếu tổ chức như vậy, các trường thành viên sẽ có nhiều ngành đào tạo trùng lặp nhau, thậm chí bộ máy quản lý hành chính cũng chồng chéo.
Hiện nay, bản thân đại học quốc gia, đại học vùng cần rà soát, tái cấu trúc lại các ngành đào tạo để hạn chế tình trạng trùng lặp. Thực tế cho thấy, việc trùng lặp đang dẫn đến cạnh tranh nội bộ giữa các trường thành viên, thay vì hỗ trợ lẫn nhau và tận dụng hiệu quả nguồn lực chung. Chẳng hạn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh có Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Công nghệ thông tin đào tạo một số ngành học giống nhau, gần giống nhau, lo ngại khó tạo ra sự liên kết hiệu quả.
Mô hình đại học hiệu quả là mô hình có một đại học (university), bên dưới là các trường (school/college), mỗi trường phụ trách một lĩnh vực riêng biệt, không chồng chéo. Ví dụ, trường chuyên biệt về luật, kinh tế, công nghệ - kỹ thuật, sức khỏe... Cách tổ chức này giúp tránh trùng lặp và tạo sự rõ ràng trong đào tạo.
Không chỉ vậy, khi sắp xếp các đại học đa ngành, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tính đến giải pháp sử dụng chung đội ngũ giảng viên giữa các khoa, trường trong cùng một đại học. Với những môn học đại cương không nên để mỗi trường tự bố trí giảng viên riêng. Thay vào đó, nên có 1 đơn vị của trường thành viên nào đó là đầu mối duy nhất. Đơn vị này sẽ chịu trách nhiệm giảng dạy tất cả các môn đại cương cho sinh viên của toàn bộ các trường thành viên. Cách tổ chức này giúp tận dụng tốt hơn đội ngũ giảng viên và nguồn lực, đồng thời hạn chế tình trạng mỗi trường phải duy trì một bộ phận riêng cho cùng một nội dung đào tạo.
Sử dụng giảng viên xuyên khoa, xuyên trường để tối ưu hóa nguồn nhân lực chất lượng cao
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Từ Quang Hiển - nguyên Giám đốc Đại học Thái Nguyên, mô hình đại học vùng, đại học quốc gia đã bộc lộ không ít hạn chế qua thời gian dài vận hành. Thực tế cho thấy, việc ghép nhiều cơ sở giáo dục thành một trường đại học lớn về cơ bản chỉ tạo ra hiệu ứng cộng hưởng về số lượng, không tự động "sinh ra" chất lượng nếu thiếu sự đầu tư bài bản về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực.
Trong vòng 5-6 năm gần đây, đại học quốc gia, đại học vùng được đầu tư nhiều nhưng vẫn chưa đáp ứng được như kỳ vọng. Vì vậy, các đại học cần nhìn nhận lại mô hình tổ chức hiện tại, mạnh dạn từ bỏ những điểm không phù hợp và tập trung đầu tư vào chiều sâu. Mục tiêu cuối cùng là mỗi cơ sở giáo dục phải có đủ năng lực cạnh tranh, có chất lượng đào tạo thực chất và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, đây là bài toán không dễ tìm ra lời giải, nhưng nếu không thay đổi sẽ rất khó bắt kịp xu thế chung của thế giới.
Bên cạnh đó, nên sử dụng đội ngũ giảng viên xuyên khoa, xuyên trường giữa các trường thành viên trong toàn đại học, thay vì chỉ bó hẹp trong phạm vi một đơn vị. Cách làm này không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn nhân lực chất lượng cao, mà còn tạo điều kiện cho những giảng viên có chuyên môn sâu, kinh nghiệm giảng dạy phong phú được phát huy tối đa năng lực. Đối với các lĩnh vực đặc thù hoặc ngành đào tạo mới, không phải trường thành viên nào cũng cần bố trí một đội ngũ riêng biệt, bởi cách làm này vừa tốn kém vừa khó đảm bảo đồng đều về chất lượng.
Sự chia sẻ giảng viên giữa các đơn vị cũng góp phần phá bỏ rào cản hành chính nội bộ, thúc đẩy sự kết nối chuyên môn và lan tỏa tri thức. Khi đó, giảng viên không còn bị gò bó bởi khuôn khổ cố định mà trở thành nguồn lực dùng chung của toàn hệ thống, vừa đáp ứng nhu cầu đào tạo đa dạng, vừa nâng cao hiệu suất lao động.