Mạng lưới phân tán, nhiều trường trùng ngành, đối tượng đào tạo: Có thể giảm 30-40% đầu mối CSGDĐH

18/08/2026 06:22
Khánh Hòa
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo ĐBQH, chuyên gia giáo dục, việc giảm tối thiểu 20% đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập đặt ra yêu cầu tái cấu trúc toàn diện nhưng cần đi kèm với việc tránh sáp nhập cơ học, đồng thời bảo đảm chất lượng đào tạo và hiệu quả nguồn lực.

Kế hoạch số 06-KH/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về thực hiện kết luận Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp yêu cầu sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học công lập. Trong đó nêu rõ, chuyển cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực về Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc địa phương quản lý, sáp nhập, hợp nhất cơ sở giáo dục trên cùng địa bàn, trừ các cơ sở giáo dục thuộc lĩnh vực đặc thù; giảm tối thiểu 20% số cơ sở giáo dục đại học công lập trước ngày 1/4/2027.

Theo một số Đại biểu Quốc hội, chuyên gia giáo dục, yêu cầu giảm tối thiểu 20% cơ sở giáo dục đại học công lập là cần thiết, tuy nhiên không nên áp dụng theo cách cào bằng hoặc coi tỷ lệ giảm đầu mối là mục tiêu cuối cùng. Việc sắp xếp cần dựa trên chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu, sứ mạng của từng cơ sở, nhu cầu nhân lực và đặc điểm phát triển của từng vùng, qua đó xác định những trường cần duy trì, tái cấu trúc, hợp nhất hoặc chuyển giao.

anh-minh-hoa.jpg
Ảnh minh họa: Đại học Quốc gia Hà Nội.

Giảm đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập là phù hợp với tình hình thực tế

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga - Phó trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng cho rằng, chủ trương sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học công lập là cần thiết, phù hợp với yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia và tạo đột phá trong phát triển giáo dục đại học.

Thực tế cho thấy, mạng lưới giáo dục đại học trong một thời gian dài phát triển tương đối phân tán. Có những cơ sở đào tạo cùng hoặc gần ngành nghề, cùng địa bàn, quy mô tuyển sinh nhỏ, nguồn lực bị chia cắt; trong khi đó, một số vùng, một số lĩnh vực quan trọng lại thiếu những cơ sở đủ mạnh để đào tạo nhân lực chất lượng cao và dẫn dắt nghiên cứu khoa học. Vì vậy, việc tổ chức lại hệ thống sẽ tạo ra nhiều thuận lợi, cụ thể:

Thứ nhất, tạo điều kiện quy hoạch lại mạng lưới các trường theo nhu cầu phát triển của quốc gia, vùng và địa phương, thay vì duy trì mạng lưới chủ yếu dựa trên lịch sử hình thành hoặc cơ chế quản lý hành chính. Mỗi vùng cần có những trung tâm đại học đủ mạnh, gắn với lợi thế phát triển, cơ cấu kinh tế, nhu cầu nhân lực và hệ sinh thái khoa học, công nghệ của vùng. Các địa phương khó khăn, vùng sâu, vùng xa vẫn phải được bảo đảm khả năng tiếp cận giáo dục đại học; nhưng không nhất thiết phải duy trì tất cả các đầu mối độc lập nếu có thể tổ chức theo mô hình phân hiệu, cơ sở đào tạo, trung tâm nghiên cứu hoặc mạng lưới liên kết hiệu quả hơn.

Thứ hai, sắp xếp hợp lý sẽ giúp tập trung và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực. Khi các cơ sở có ngành đào tạo trùng nhau hoặc gần nhau cần được tổ chức lại để phát huy hiệu quả hệ thống có thể dùng chung phòng thí nghiệm, thư viện, hạ tầng số, ký túc xá, đội ngũ giảng viên và bộ máy phục vụ. Nguồn ngân sách nhà nước sẽ được tập trung cho chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và hỗ trợ người học, thay vì phải phân tán để duy trì nhiều bộ máy quản lý độc lập.

Thứ ba, đây là cơ hội để nâng cao chất lượng quản trị đại học. Sáp nhập chỉ có ý nghĩa khi đi liền với tái cấu trúc bên trong, xóa bỏ tầng nấc trung gian, phân định rõ trách nhiệm, tăng quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình và thiết lập hệ thống quản trị minh bạch.

Thứ tư, việc hình thành các cơ sở có quy mô phù hợp sẽ tạo điều kiện phát triển đào tạo liên ngành, nghiên cứu liên ngành và đổi mới sáng tạo. Những vấn đề lớn hiện nay như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, năng lượng mới, biến đổi khí hậu, y sinh, đô thị thông minh hay công nghiệp văn hóa đều không thể giải quyết trong phạm vi một ngành đào tạo đơn lẻ. Các đại học có quy mô và năng lực tốt hơn sẽ thuận lợi trong việc xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh, thu hút chuyên gia, hợp tác với doanh nghiệp và tham gia các mạng lưới nghiên cứu quốc tế.

Tuy vậy, giảm đầu mối không phải là mục tiêu cuối cùng. Mục tiêu cuối cùng phải là nâng cao chất lượng đào tạo, hiệu quả nghiên cứu, khả năng phục vụ cộng đồng và năng lực cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam. Không nên xem một trường có quy mô nhỏ mặc nhiên là hoạt động kém hiệu quả hoặc cứ sáp nhập thành trường lớn sẽ có chất lượng cao. Một số cơ sở đào tạo chuyên sâu, có truyền thống và uy tín học thuật riêng cần được giữ, kể cả khi quy mô không lớn.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga - Phó trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng. Ảnh: NVCC

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga - Phó trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng. Ảnh: NVCC

Cùng bàn về vấn đề này, Tiến sĩ Lê Đông Phương - nguyên cán bộ Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo) đánh giá, yêu cầu giảm tối thiểu 20% số cơ sở giáo dục đại học công lập trước ngày 1/4/2027 là phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong quá trình sắp xếp, tinh gọn mạng lưới giáo dục đại học.

Hiện nay còn nhiều cơ sở giáo dục đại học quy mô nhỏ, hoạt động chưa hiệu quả. Vì vậy, việc giảm đầu mối, sắp xếp lại sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, đồng thời giảm áp lực quản lý đối với cơ quan quản lý nhà nước. Quan trọng hơn, quá trình này có thể giúp người học có thêm cơ hội tiếp cận những cơ sở giáo dục chất lượng, thay vì lựa chọn những trường hoạt động kém hiệu quả.

Tuy nhiên, việc giảm đầu mối không đồng nghĩa với việc xóa bỏ cơ học các cơ sở giáo dục đại học nhỏ trên mọi địa bàn. Ở một số địa bàn kém phát triển, dù còn có những cơ sở giáo dục đại học có quy mô nhỏ, chất lượng đào tạo còn hạn chế so với các trường ở khu vực thuận lợi, việc duy trì vẫn cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của người dân tại chỗ và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Về tiêu chí sắp xếp các trường đại học, Tiến sĩ Lê Đông Phương cho rằng, Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chuẩn cơ sở giáo dục đại học là một trong những căn cứ cần được xem xét. Trước hết, các trường cần bảo đảm yêu cầu theo chuẩn Thông tư 01, trong đó có những tiêu chí liên quan đến quy mô, đội ngũ, cơ sở vật chất, chất lượng đào tạo... Những cơ sở không đáp ứng yêu cầu này và không có khả năng khắc phục, điều chỉnh trong thời gian sắp tới có thể được đưa vào diện xem xét trong quá trình sắp xếp.

Bên cạnh đó, cần tính đến sự phân bố và mức độ trùng lặp diện đào tạo giữa các cơ sở giáo dục đại học. Tại khu vực kinh tế phát triển, đặc biệt là các đô thị lớn, hiện tập trung khá nhiều trường có quy mô, ngành đào tạo và đối tượng tuyển sinh tương đối giống nhau. Do đó, quá trình sắp xếp cần xem xét đến sự cần thiết của việc duy trì nhiều cơ sở giáo dục cùng đào tạo các lĩnh vực tương tự, trong khi cùng sử dụng nguồn lực nhà nước và hướng tới cùng nhóm đối tượng.

796807ba-9916-47f8-98c1-16e7e584f315.jpg
Tiến sĩ Lê Đông Phương - chuyên gia giáo dục đại học, nguyên cán bộ Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo). Ảnh: NVCC.

Cần căn cứ vào các tiêu chí cụ thể khi sắp xếp, sáp nhập trường đại học

Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo) nêu quan điểm, việc giảm đầu mối các cơ sở giáo dục đại học công lập là yêu cầu đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Phương án sắp xếp cần được tính toán dựa trên chuẩn cơ sở giáo dục đại học, việc quy hoạch phát triển nhân lực và đặc điểm địa lý của từng vùng, miền.

Cần xây dựng các tiêu chí cụ thể trong đánh giá thực trạng, xác định những cơ sở phù hợp để sắp xếp và lựa chọn phương án hợp lý. Mục tiêu cuối cùng là phát huy lợi thế, tạo sự cộng hưởng về nguồn lực và hình thành các trường có quy mô, năng lực cũng như hiệu quả hoạt động cao hơn, thay vì làm triệt tiêu những lợi thế vốn có của từng đơn vị.

Trên cơ sở đó, phương án sắp xếp cần gắn với quy hoạch phát triển các vùng kinh tế và nhu cầu nhân lực của từng khu vực. Chẳng hạn, tại những địa bàn đang phát triển công nghệ cao có thể ưu tiên các trường đại học kỹ thuật, công nghệ; trong khi những khu vực có thế mạnh kinh tế khác cần được định hướng đào tạo phù hợp với nhu cầu nhân lực và đặc điểm phát triển của vùng.

Ngoài ra, cần tính đến nhu cầu nhân lực và khả năng đào tạo cho cả khu vực. Một trường đại học không thể chỉ đáp ứng nhu cầu của người học trong phạm vi một tỉnh/thành phố mà cần đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực cho cả những địa phương lân cận. Như vậy, quy hoạch cần có tầm nhìn liên vùng, bảo đảm sự phân công, liên kết và bổ trợ giữa các cơ sở giáo dục.

Đặc biệt, vấn đề mô hình quản trị và cơ chế chủ quản sau sắp xếp, sáp nhập cần được tính toán ngay từ đầu. Nếu chưa có phương án quản trị phù hợp, quá trình này có thể phát sinh những bất cập mới, thậm chí ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của đơn vị sau sáp nhập.

Trong trường hợp chuyển các trường về địa phương quản lý, cần tính đến năng lực quản trị giáo dục đại học của chính quyền địa phương. Việc quản lý cơ sở giáo dục đại học đòi hỏi những yêu cầu khác so với giáo dục phổ thông, do đó không thể chỉ chuyển giao quyền quản lý, mà cần đi kèm cơ chế, nguồn lực và đội ngũ.

Song song với đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tự chủ đại học, bảo đảm các trường có đủ điều kiện phát huy nguồn lực và tiềm năng. Việc thay đổi cơ quan chủ quản cần gắn với mô hình quản trị phù hợp, tránh gia tăng sự can thiệp hành chính vào hoạt động của nhà trường. Quyền tự chủ phải đi đôi với trách nhiệm giải trình, tạo điều kiện để các trường phát huy chức năng, nhiệm vụ và thế mạnh riêng.

bac-vinh.jpg
Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo). Ảnh: NVCC.

Trong khi đó, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, tiêu chí quan trọng nhất là phương án sắp xếp phải tạo ra chất lượng và hiệu quả giáo dục cao hơn một cách thực chất, phù hợp với sứ mạng của cơ sở và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của đất nước, của vùng và địa phương.

Việc đánh giá phải dựa trên dữ liệu và chuẩn chất lượng, thay vì dựa vào nhận định cảm tính hoặc chỉ tiêu hành chính đơn thuần. Từ tiêu chí trung tâm đó, cần xem xét đồng thời một số nhóm yếu tố gồm: mức độ đáp ứng chuẩn cơ sở giáo dục đại học và kết quả đầu ra; sứ mạng và tính đặc thù; tính bổ trợ giữa các cơ sở dự kiến sáp nhập; tác động đối với người học, giảng viên và xã hội.

Đặc biệt, trước khi quyết định sáp nhập cần xây dựng đề án phát triển cơ sở sau sắp xếp, trong đó xác định rõ mô hình quản trị, chiến lược ngành nghề, phương án sử dụng đội ngũ, cơ chế tài chính, quản lý tài sản và các chỉ tiêu chất lượng phải đạt được sau một khoảng thời gian nhất định. Không nên chỉ đánh giá việc sắp xếp bằng số lượng đầu mối đã giảm, mà cần tiếp tục kiểm tra xem chất lượng và hiệu quả sau sáp nhập có thực sự được nâng lên hay không.

Có thể mạnh dạn giảm 30-40% đầu mối cơ sở giáo dục đại học nếu đủ điều kiện

Theo Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, đối với bộ, ngành hoặc địa phương có nhiều cơ sở nhỏ, ngành nghề trùng lặp, hoạt động chưa hiệu quả, chưa đạt chuẩn hoặc không còn phù hợp với nhu cầu nhân lực, hoàn toàn có thể nghiên cứu phương án giảm 30-40%, thậm chí cao hơn nếu có đủ căn cứ khoa học và thực tiễn.

Tuy nhiên cần phải xác định rõ đầu mối nào thực sự cần duy trì, đầu mối nào cần tái cấu trúc, đầu mối nào nên chuyển giao, hợp nhất hoặc giải thể. Tỷ lệ giảm phải là kết quả của quá trình rà soát dựa trên chuẩn, quy hoạch và nhu cầu phát triển.

Việc hình thành những đại học có quy mô lớn hơn có thể tạo ra nhiều lợi thế nhưng quy mô lớn chỉ là điều kiện thuận lợi, không phải sự bảo đảm cho chất lượng. Một đại học có hàng chục nghìn sinh viên nhưng quản trị cồng kềnh, ngành nghề dàn trải, thiếu liên kết học thuật và thiếu cơ chế kiểm soát chất lượng thì chưa chắc có sức cạnh tranh hơn một trường quy mô vừa nhưng có chiến lược rõ ràng, đội ngũ mạnh và uy tín chuyên môn cao. Chất lượng đại học phụ thuộc trước hết vào con người, thể chế quản trị, tự do học thuật, trách nhiệm giải trình, năng lực nghiên cứu và mức độ gắn kết với nhu cầu xã hội.

hcm-1.jpg
Ảnh minh họa: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga nhấn mạnh, cần đặc biệt lưu ý nguy cơ "sáp nhập cơ học", gộp nhiều trường thành một đầu mối hành chính nhưng các đơn vị thành viên vẫn hoạt động gần như cũ; bộ máy lãnh đạo không giảm đáng kể; ngành đào tạo tiếp tục trùng lặp; nguồn lực không được điều phối chung. Khi đó, quy mô tổ chức có thể lớn hơn nhưng hiệu quả không tăng, thậm chí phát sinh thêm tầng nấc quản lý và xung đột nội bộ.

Vì vậy, ở những nơi có điều kiện thực hiện cần mạnh dạn giảm 30-40% đầu mối, nhưng phải đi kèm ba yêu cầu.

Thứ nhất là có bản đồ quy hoạch mạng lưới rõ ràng, xác định vai trò của từng cơ sở trong hệ thống quốc gia và vùng; không để phát sinh khoảng trống đào tạo hoặc làm giảm cơ hội tiếp cận giáo dục của người dân.

Thứ hai, có phương án quản trị sau sáp nhập khả thi, lựa chọn đội ngũ lãnh đạo dựa trên năng lực, uy tín và khả năng đổi mới; đồng thời xử lý minh bạch các vấn đề về nhân sự, tài chính, tài sản, đất đai và quyền lợi của người học.

Thứ ba, có cơ chế giám sát chất lượng sau sắp xếp, với các chỉ tiêu cụ thể về chất lượng đào tạo, nghiên cứu, việc làm của sinh viên, hiệu quả sử dụng ngân sách và mức độ hài lòng của người học. Sau một thời gian nhất định, cần đánh giá độc lập để xem mục tiêu của việc sắp xếp có đạt được hay không.

Việc thực hiện phải quyết liệt nhưng không nóng vội; mạnh dạn nhưng không cơ học. Tinh gọn đầu mối là cần thiết, nhưng tinh gọn phải mở đường cho phát triển. Một cuộc sắp xếp thành công phải giúp hệ thống giáo dục đại học sử dụng tốt hơn nguồn lực của Nhà nước và xã hội, nâng cao chất lượng đào tạo, tạo ra nhiều tri thức và công nghệ hơn, đồng thời đóng góp thiết thực hơn cho sự phát triển của đất nước.

Khánh Hòa