Khi còn 50-60 cơ sở đào tạo tiến sĩ cần đi kèm chuyên môn hóa, phân tầng sứ mạng

31/08/2026 06:20
Đình Nam

GDVN - Theo lãnh đạo một số cơ sở giáo dục đang đào tạo trình độ tiến sĩ, quy hoạch mạng lưới đào tạo tiến sĩ không chỉ là việc giảm số lượng cơ sở được phép đào tạo, mà quan trọng hơn là tạo ra sự phân công, liên kết và chuyên môn hóa giữa các trường.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định 2249/QĐ-BGDĐT phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp công lập thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trong đó, quy hoạch định hướng giảm còn 50 đến 60 cơ sở giáo dục đại học đào tạo tới trình độ tiến sĩ.

Trước định hướng này, theo lãnh đạo một số cơ sở giáo dục đang đào tạo trình độ tiến sĩ, các trường cần tập trung đào tạo ở những lĩnh vực có thế mạnh, cũng như xây dựng một hệ sinh thái nghiên cứu đồng bộ, bảo đảm năng lực đào tạo tiến sĩ thực chất và lâu dài.

Bên cạnh giảm số lượng cơ sở giáo dục cần chú trọng đảm bảo năng lực đào tạo thực chất và lâu dài

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Bá Thìn - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức nhấn mạnh, định hướng phát triển và phân bố mạng lưới cơ sở giáo dục đại học công lập đến năm 2030 chỉ còn khoảng 50-60 cơ sở đào tạo đến trình độ tiến sĩ sẽ tạo động lực để hệ thống sắp xếp theo hướng trọng tâm, trọng điểm. Khi nguồn lực được tập trung, các cơ sở có điều kiện củng cố đội ngũ, môi trường nghiên cứu, hạ tầng và nâng cao chất lượng các sản phẩm khoa học.

Dù vậy, quy hoạch không nên chỉ đặt mục tiêu giảm số lượng cơ sở đào tạo mà cần đi kèm phân tầng sứ mạng và nâng chuẩn chất lượng. Việc sắp xếp cần dựa trên năng lực thực chất, kết quả kiểm định, thế mạnh nghiên cứu và nhu cầu nhân lực của quốc gia, từng vùng, đồng thời có lộ trình phù hợp để bảo đảm quyền lợi của người học.

Theo thầy Thìn, mỗi cơ sở giáo dục đại học cần tập trung đào tạo tiến sĩ ở những lĩnh vực có thế mạnh, thay vì mở rộng ngành theo chiều rộng. Một chương trình chỉ nên được duy trì khi có đội ngũ đủ mạnh, nhóm nghiên cứu hoạt động thực chất, cùng dữ liệu, hạ tầng và nguồn lực cần thiết để giải quyết các bài toán phát triển.

773483507-1548650176759226-1459790728690401280-n.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Bá Thìn - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức. Ảnh: website nhà trường

“Đối với Trường Đại học Hồng Đức, nhà trường định hướng phát triển đào tạo tiến sĩ có chọn lọc, dựa trên năng lực đội ngũ, truyền thống học thuật và nhu cầu nhân lực của tỉnh Thanh Hóa cũng như khu vực.

Uy tín của một cơ sở đào tạo không nằm ở số lượng ngành mở mới, mà phải được khẳng định bằng chất lượng luận án, năng lực của người tốt nghiệp và những đóng góp cụ thể cho khoa học, giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Bá Thìn cho hay.

Về công tác tuyển sinh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức nhận định, các cơ sở đào tạo tiến sĩ cần chuyển dứt khoát từ tư duy “tuyển đủ” sang “tuyển đúng”, bởi mục tiêu của đào tạo tiến sĩ là hình thành những người có khả năng tạo ra tri thức mới. Vì vậy, tuyển sinh cần đánh giá toàn diện nền tảng chuyên môn, năng lực nghiên cứu, tư duy độc lập, động cơ học thuật và mức độ phù hợp của ứng viên với định hướng nghiên cứu của cơ sở đào tạo.

“Ứng viên cần có đề xuất nghiên cứu xác định rõ vấn đề, thể hiện tính mới, tính khả thi và giá trị khoa học hoặc thực tiễn. Ngoại ngữ cũng cần được nhìn nhận như công cụ để tiếp cận và trao đổi học thuật quốc tế, thay vì chỉ dừng ở yêu cầu về chứng chỉ. Bên cạnh đó, công bố khoa học, kinh nghiệm tham gia các đề tài, dự án hoặc hoạt động nghề nghiệp liên quan là những minh chứng quan trọng để đánh giá tiềm năng nghiên cứu của ứng viên.

Thông tư số 53/2026/TT-BGDĐT ngày 30/6/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học cho phép các cơ sở đào tạo đặt yêu cầu đầu vào cao hơn mức chung, song mỗi chương trình cần xây dựng bộ tiêu chí tuyển chọn phù hợp với đặc thù ngành, bảo đảm công khai, có thể đo lường và đánh giá được.

Quan trọng hơn, cần bảo đảm sự tương thích giữa ứng viên, hướng nghiên cứu, người hướng dẫn và nguồn lực đào tạo. Chất lượng luận án bắt đầu từ chất lượng tuyển chọn nghiên cứu sinh”, thầy Thìn nhấn mạnh.

Còn theo đại diện Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, việc quy hoạch còn 50-60 cơ sở giáo dục đại học công lập đào tạo đến trình độ tiến sĩ, trong đó khoảng 50% theo định hướng nghiên cứu, là bước đi cần thiết nhằm tái cấu trúc hoạt động đào tạo sau đại học theo hướng tập trung và nâng cao chất lượng.

Quy hoạch này sẽ góp phần tập trung nguồn lực quốc gia, khắc phục tình trạng đào tạo tiến sĩ còn phân tán, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở đào tạo đầu tư chiều sâu về đội ngũ, cơ sở vật chất và năng lực nghiên cứu, qua đó từng bước đưa đào tạo sau đại học của Việt Nam tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Đại diện nhà trường cũng cho rằng định hướng nên tập trung đào tạo tiến sĩ dựa trên thế mạnh nghiên cứu cốt lõi của từng cơ sở thay vì phát triển dàn trải nhiều ngành. Theo đó, mỗi trường cần xác định rõ những lĩnh vực có lợi thế về đội ngũ, cơ sở vật chất, năng lực nghiên cứu và nhu cầu thực tiễn để đầu tư có trọng tâm, từng bước hình thành những nhóm ngành, lĩnh vực nghiên cứu mũi nhọn có khả năng tạo dấu ấn riêng.

“Nhà trường kiên định tập trung đào tạo tiến sĩ ở một số lĩnh vực thế mạnh như Công nghệ sinh học, Khoa học Cây trồng, Chăn nuôi, Ký sinh trùng và vi sinh vật học thú y, Lâm sinh, Quản lý đất đai, Khoa học môi trường và Phát triển nông thôn.

Đây đều là những lĩnh vực gắn với thế mạnh đào tạo, nghiên cứu của nhà trường, đồng thời có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của khu vực Trung du và miền núi phía Bắc cũng như cả nước”, đại diện Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên bày tỏ.

605304348-1351656990335926-7126159142186750175-n.jpg
Hoạt động thực hành của nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên. Ảnh: website nhà trường

Bên cạnh việc xác định thế mạnh riêng, đại diện Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên cho rằng các cơ sở đào tạo là thành viên của Đại học Thái Nguyên cần tăng cường liên kết, hình thành các liên minh và mạng lưới nghiên cứu.

Các trường có thể bổ trợ cho nhau về đội ngũ chuyên gia, phòng thí nghiệm, cơ sở vật chất, dữ liệu và các nguồn lực nghiên cứu, qua đó hình thành một hệ sinh thái nghiên cứu đa ngành đủ mạnh. Cách làm này vừa phát huy được thế mạnh riêng của từng trường, vừa tránh tình trạng mỗi cơ sở phải đầu tư dàn trải và tự phát triển tất cả các ngành đào tạo tiến sĩ.

Theo hướng tiếp cận này, quy hoạch mạng lưới đào tạo tiến sĩ không chỉ là việc giảm số lượng cơ sở được phép đào tạo, mà quan trọng hơn là tạo ra sự phân công, liên kết và chuyên môn hóa giữa các trường.

Khi mỗi cơ sở tập trung phát triển những lĩnh vực có lợi thế và cùng tham gia các mạng lưới nghiên cứu liên ngành, nguồn lực dành cho đào tạo tiến sĩ sẽ được sử dụng hiệu quả hơn, đồng thời chất lượng đào tạo và năng lực nghiên cứu sau đại học có cơ hội được nâng lên rõ rệt.

Cần xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu đồng bộ, có chính sách đãi ngộ và phát triển nhân lực tốt

Bên cạnh quy hoạch định hướng còn 50-60 cơ sở đào tạo trình độ tiến sĩ, từ ngày 1/1/2027, nhiều quy định liên quan đến đào tạo trình độ tiến sĩ được bổ sung và siết chặt theo Thông tư số 53/2026/TT-BGDĐT.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Bá Thìn, để đáp ứng các yêu cầu theo Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT, các cơ sở đào tạo không nên chỉ dừng ở việc hoàn thiện danh mục điều kiện mà cần xây dựng một hệ sinh thái nghiên cứu đồng bộ, bảo đảm năng lực đào tạo tiến sĩ thực chất và lâu dài.

Trước hết, yếu tố then chốt là đội ngũ giảng viên, người hướng dẫn phải đủ mạnh, duy trì hoạt động nghiên cứu thường xuyên và có khả năng hình thành các nhóm nghiên cứu liên ngành. Chính sách thu hút chuyên gia cần đi kèm với cơ chế giao quyền, tạo không gian học thuật và môi trường nghiên cứu phù hợp để các chuyên gia thực sự phát huy vai trò dẫn dắt nghiên cứu sinh.

Về hạ tầng, các trường cần đầu tư có trọng tâm, phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực. Đối với khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ, cần hệ thống phòng thí nghiệm đồng bộ, được vận hành hiệu quả và có cơ chế khai thác, sử dụng chung. Trong khi đó, các ngành khoa học xã hội và nhân văn cần chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu, phần mềm chuyên ngành, kho tư liệu và mạng lưới khảo sát. Việc đầu tư phải bám sát chương trình đào tạo và định hướng nghiên cứu, tránh tình trạng đầu tư dàn trải nhưng khai thác không hiệu quả.

Bên cạnh cơ sở vật chất, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức cho rằng khả năng tiếp cận các nguồn học liệu và dữ liệu khoa học cũng có ý nghĩa quan trọng.

Giảng viên và nghiên cứu sinh cần được tiếp cận đầy đủ cơ sở dữ liệu khoa học, hệ thống tạp chí, sách điện tử và các công cụ hỗ trợ bảo đảm liêm chính học thuật. Đồng thời, tiến độ đào tạo, sản phẩm nghiên cứu và các điều kiện bảo đảm chất lượng cần được quản lý trên một hệ thống dữ liệu thống nhất, qua đó nâng cao hiệu quả theo dõi và đánh giá quá trình đào tạo.

Đặc biệt, nguồn lực tài chính cần được bảo đảm ổn định, có tính cạnh tranh và gắn với kết quả nghiên cứu. Kinh phí nên tập trung cho các đề tài, công bố khoa học, hội thảo, trao đổi học thuật, học bổng và các hoạt động hỗ trợ nghiên cứu sinh.

Nhà trường cũng cần chủ động huy động thêm nguồn lực từ các nhiệm vụ khoa học - công nghệ, doanh nghiệp, địa phương và hợp tác quốc tế. Từ đó, nghiên cứu sinh mới có điều kiện dành thời gian thực chất cho nghiên cứu, đồng thời tạo ra những sản phẩm khoa học có chất lượng, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu của cơ sở đào tạo.

Bên cạnh đó, một vấn đề được đặt ra là sau một vài năm mở ngành đào tạo trình độ tiến sĩ, đội ngũ và năng lực nghiên cứu của cơ sở đào tạo có thể biến động, ảnh hưởng đến điều kiện duy trì chương trình đào tạo tiến sĩ.

Liên quan đến vấn đề này, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức khẳng định, các điều kiện đào tạo tiến sĩ phải được duy trì liên tục trong suốt quá trình tổ chức đào tạo, thay vì chỉ được kiểm tra tại thời điểm mở ngành. Do đó, các cơ sở đào tạo cần chuyển từ cách thức kiểm tra theo từng đợt sang cơ chế giám sát thường xuyên dựa trên dữ liệu và cảnh báo sớm.

dao-tao-16629152458731049874458-1662916444374711133591-20220912090327-e.jpg
Giảng viên và nghiên cứu sinh Trường Đại học Hồng Đức. Ảnh: website nhà trường

“Hằng năm, các cơ sở đào tạo cần rà soát toàn diện đội ngũ giảng viên, người hướng dẫn, kết quả nghiên cứu, hạ tầng, học liệu, dữ liệu, nguồn kinh phí, tỷ lệ nghiên cứu sinh trên người hướng dẫn cũng như tiến độ, tỷ lệ hoàn thành và chất lượng đầu ra. Kết quả rà soát cần gắn với trách nhiệm của từng đơn vị chuyên môn và được cụ thể hóa bằng kế hoạch cải tiến, khắc phục những hạn chế được phát hiện.

Ngoài ra, cần chú trọng xây dựng đội ngũ kế cận, tạo điều kiện cho giảng viên trẻ và nghiên cứu sau tiến sĩ phát triển, đồng thời thu hút chuyên gia, hình thành các nhóm nghiên cứu và có chính sách đãi ngộ dựa trên đóng góp học thuật. Điều này sẽ giúp hạn chế sự phụ thuộc của chương trình vào một vài cá nhân và bảo đảm tính ổn định lâu dài.

Đồng thời, nếu các điều kiện cốt lõi không còn được bảo đảm, cơ sở đào tạo cần chủ động giảm chỉ tiêu hoặc tạm dừng tuyển sinh để tập trung củng cố nguồn lực”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Bá Thìn nhấn mạnh.

Còn theo đại diện Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, để tránh tình trạng ngành đào tạo chỉ “đủ điều kiện” tại thời điểm mở ngành nhưng sau đó không duy trì được chất lượng, các trường cần xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát và củng cố điều kiện đào tạo một cách thường xuyên.

Thứ nhất, nhà trường nên thực hiện đánh giá định kỳ và hậu kiểm nội bộ hằng năm, tập trung rà soát đội ngũ giảng viên, năng lực nghiên cứu, công bố khoa học và các điều kiện phục vụ đào tạo của từng ngành theo quy định hiện hành. Với những ngành không còn đáp ứng các tiêu chuẩn hoặc gặp khó khăn trong tuyển sinh, cần chủ động xem xét điều chỉnh, thậm chí tạm dừng tuyển sinh để bảo đảm chất lượng.

Thứ hai, chính sách đãi ngộ, giữ chân và phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa then chốt trong việc duy trì ổn định các ngành đào tạo. Các trường cần xây dựng hệ thống KPI nghiên cứu rõ ràng, có cơ chế khen thưởng tương xứng đối với những công bố quốc tế chất lượng cao, đồng thời tạo điều kiện cho giảng viên trẻ có năng lực, đặc biệt về ngoại ngữ, được đào tạo tiến sĩ tại các cơ sở giáo dục tiên tiến ở nước ngoài. Đây sẽ là lực lượng kế cận, góp phần duy trì đội ngũ chuyên môn và tạo nền tảng để phát triển, mở mới các ngành đào tạo trong tương lai.

Thứ ba, cần minh bạch hóa dữ liệu đào tạo và nghiên cứu. Hằng năm, các nhà trường cần cập nhật, công khai thông tin về đội ngũ hướng dẫn, đề tài nghiên cứu và các sản phẩm công bố trên cổng thông tin điện tử, đồng thời đồng bộ với hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

“Việc công khai này không chỉ giúp người học và xã hội có thêm thông tin để đánh giá chất lượng đào tạo mà còn tạo cơ chế giám sát thường xuyên, qua đó thúc đẩy các cơ sở đào tạo chủ động duy trì và nâng cao các điều kiện bảo đảm chất lượng”, đại diện Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên cho hay.

Đình Nam