Theo Tiêu chí 5.3, Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về chuẩn cơ sở giáo dục đại học, tỷ lệ tốt nghiệp được xác định là tỷ lệ người học tốt nghiệp không chậm quá 2 năm so với thời gian đào tạo theo kế hoạch học tập chuẩn phải đạt tối thiểu 60%; trong đó, tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn không thấp hơn 40%. Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường gặp khó khăn trong đạt chuẩn tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn.
Trước thực trạng này, nhiều cơ sở giáo dục đại học đã áp dụng nhiều giải pháp, từ rà soát, cải tiến chương trình đào tạo, đến tăng cường vai trò của cố vấn học tập, theo sát sinh viên chậm tiến độ.
Trường dạy 3 học kỳ/năm, thuận lợi cho sinh viên học lại
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Cù Xuân Tiến - Trưởng phòng, Phòng Tuyển sinh và Công tác sinh viên, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết từ năm học 2024-2025, nhà trường chuyển sang tổ chức 3 học kỳ chính, mỗi học kỳ 15 tuần, trên cơ sở khoản 2 Điều 6 Quy chế đào tạo trình độ đại học ban hành kèm Thông tư 08/2021/TT-BGDĐT.
Theo đó, sinh viên có 3 đợt đăng ký mỗi năm để học lại, học vượt hoặc học bù. Sinh viên không đạt học phần ở học kỳ 1 có thể đăng ký học lại ngay trong học kỳ 2 hoặc học kỳ 3. Những sinh viên còn thiếu điều kiện tốt nghiệp có thể hoàn tất trước ngày 31/12 hằng năm, thay vì phải chờ đợt xét tốt nghiệp của năm sau.
Khóa 2022 là khóa đầu tiên có 2 năm cuối học theo mô hình mới và vừa tốt nghiệp với tỷ lệ đúng hạn đạt 84,9%, cao nhất từ trước đến nay, tăng 8,3% so với khóa trước. Trong khi đó, tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn của 4 khóa trước chỉ dao động trong biên độ khoảng 4%. Với các khóa 2023 và 2024, sinh viên được học gần như toàn khóa theo mô hình 3 học kỳ chính, nhà trường kỳ vọng tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn sẽ tiếp tục tăng.
“Muốn nâng tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn cần bắt đầu từ việc điều chỉnh cấu trúc và kế hoạch đào tạo, thay vì chỉ yêu cầu sinh viên nỗ lực. Các trường có thể nghiên cứu tổ chức 3 học kỳ chính hoặc ít nhất mở lớp học lại ở tất cả các học kỳ đối với những học phần có tỷ lệ sinh viên không đạt cao. Quy chế đã cho phép thực hiện, vấn đề là các trường có sẵn sàng thay đổi cách vận hành hay không” - thầy Tiến chia sẻ.
Đối với chuẩn ngoại ngữ, cần đưa yêu cầu này vào lộ trình ngay từ năm nhất, thông qua kiểm tra, phân loại đầu vào, tổ chức các lớp bổ trợ cho sinh viên chưa đạt chuẩn và xây dựng các mốc kiểm tra theo từng năm, thay vì dồn yêu cầu vào cuối khóa.
Sau mỗi học kỳ, hệ thống quản lý đào tạo nên tự động xác định những sinh viên có tốc độ tích lũy tín chỉ chậm hơn tiến độ để cố vấn học tập kịp thời làm việc, hỗ trợ từng trường hợp. Để làm được điều này, dữ liệu học tập cần được kết nối với công tác sinh viên.
Bên cạnh đó, thực tập và khóa luận nên được tổ chức thành nhiều đợt trong năm, tăng cường kết nối với doanh nghiệp, tạo điều kiện để sinh viên đi làm sớm nhưng vẫn có thể hoàn thành chương trình đúng tiến độ.
“Tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn là chỉ số đáng theo dõi nhưng không nên trở thành mục tiêu tự thân. Nếu tăng tỷ lệ bằng cách hạ chuẩn đầu ra thì người chịu hệ quả là xã hội và chính sinh viên. Điều cần làm là tháo gỡ những rào cản về tổ chức, để những sinh viên đủ năng lực không bị chậm tốt nghiệp vì những nguyên nhân nằm ngoài học lực” - thầy Tiến cho hay.
Cố vấn học tập theo sát các trường hợp sinh viên chậm tiến độ
Cùng bàn luận về chủ đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Viết Long - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Luật, Đại học Huế cho hay, đa số sinh viên hoàn thành chương trình theo kế hoạch; tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận tốt nghiệp muộn do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan.
Một số sinh viên gặp khó khăn trong quá trình học tập, chưa hoàn thành đầy đủ các học phần hoặc chưa đáp ứng chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo. Một số trường hợp chưa xây dựng kế hoạch học tập khoa học, chưa theo dõi sát tiến độ tích lũy tín chỉ hoặc chưa phân bổ hợp lý thời gian để hoàn thành các yêu cầu về học tập và rèn luyện. Ngoài ra, sức khỏe, tâm lý, điều kiện kinh tế và những khó khăn phát sinh khác cũng có thể ảnh hưởng đến tiến độ học tập.
Ở phía nhà trường, một trong những khó khăn lớn là nguyên nhân chậm tốt nghiệp của mỗi sinh viên không giống nhau và có thể thay đổi trong quá trình học tập. Vì vậy, việc nhận diện sớm nguy cơ, xác định đúng nguyên nhân và xây dựng phương án hỗ trợ phù hợp cho từng trường hợp đòi hỏi sự theo dõi thường xuyên và phối hợp giữa đơn vị chuyên môn, cố vấn học tập, sinh viên và gia đình.
Bên cạnh đó, nâng tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn phải đi đôi với bảo đảm chất lượng đào tạo. Các biện pháp hỗ trợ sinh viên phải phù hợp với quy chế đào tạo, chuẩn đầu ra của chương trình và các điều kiện công nhận tốt nghiệp. Do đó, vấn đề không chỉ là giúp sinh viên hoàn thành chương trình đúng tiến độ mà còn phải bảo đảm người học đạt được kiến thức, kỹ năng và năng lực cần thiết trước khi tốt nghiệp.
Nắm bắt điều này, nhà trường xây dựng kế hoạch đào tạo và xét tốt nghiệp theo từng năm học, trong đó xác định tiến độ thực hiện chương trình, các mốc rà soát và những điều kiện sinh viên cần hoàn thành. Trên cơ sở đó, các đơn vị được phân công định kỳ rà soát kết quả học tập, mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra, kết quả rèn luyện và các điều kiện tốt nghiệp. Những sinh viên có nguy cơ chậm tiến độ được thông tin, tư vấn và hướng dẫn xây dựng lộ trình hoàn thành các nội dung còn thiếu.
Đồng thời, nhà trường tăng cường vai trò của cố vấn học tập và phối hợp với gia đình để nắm bắt tình hình học tập cũng như những khó khăn của sinh viên, từ đó có biện pháp tư vấn và hỗ trợ phù hợp. Qua triển khai, bước đầu ghi nhận sinh viên quan tâm đầy đủ hơn đến các điều kiện tốt nghiệp và chủ động hơn trong việc xây dựng, thực hiện kế hoạch học tập.
"Thời gian tới, nhà trường sẽ tiếp tục rà soát, đánh giá và hoàn thiện các biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn, trên nguyên tắc bảo đảm chuẩn đầu ra và các điều kiện công nhận tốt nghiệp" - thầy chia sẻ.
Không để ngoại ngữ là rào cản với sinh viên nhóm ngành kỹ thuật
Tại Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), khối ngành kỹ thuật - công nghệ và khoa học tự nhiên chiếm quy mô đào tạo lớn nhất. Tuy nhiên, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn ở nhóm ngành kỹ thuật thường thấp hơn so với các ngành kinh tế và quản lý. Theo Báo cáo thường niên năm 2025, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn của trường là 40,6%.
Lý giải về thực trạng này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Thắng - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng những ngành có yêu cầu cao về năng lực kỹ thuật, tay nghề và kỹ năng thực hành đòi hỏi sinh viên nhiều thời gian hơn để tích lũy kiến thức, rèn luyện kỹ năng và làm chủ chuyên môn.
"Đồng thời, mỗi sinh viên có tốc độ tiếp thu và học tập khác nhau. Bên cạnh những trường hợp chưa thể tốt nghiệp đúng hạn, cũng có nhiều sinh viên đạt trình độ chuyên môn cao ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường và hoàn thành chương trình trước thời hạn" - thầy Thắng chia sẻ.
Trước thực trạng này, thầy Thắng cho biết nhà trường và đội ngũ giảng viên đã liên tục rà soát, cải tiến chương trình đào tạo nhằm xác định chính xác những "điểm nghẽn" cốt lõi, từ đó triển khai các giải pháp phù hợp và hiệu quả. Nhiều biện pháp đồng bộ đã và đang được thực hiện để cải thiện tình hình.
Theo thầy Thắng, ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, từng là một trong những rào cản lớn đối với sinh viên khối kỹ thuật. Tuy nhiên, với định hướng quốc tế hóa đào tạo, nhà trường đã đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy và tăng cường các hoạt động hỗ trợ, giúp sinh viên nâng cao năng lực ngoại ngữ để tiếp cận tri thức và công nghệ tiên tiến trên thế giới. Đến nay, tiếng Anh không còn là trở ngại lớn đối với phần lớn sinh viên của trường.
Trong chiến lược phát triển đến năm 2030, trường đặt mục tiêu 72% sinh viên đạt chuẩn tiếng Anh ở mức vượt yêu cầu và hoàn thành sớm trước thời điểm xét tốt nghiệp. Theo lãnh đạo nhà trường, mục tiêu này đang được hiện thực hóa với tiến độ khả quan và nhiều khả năng sẽ hoàn thành sớm hơn kế hoạch.
Bên cạnh việc nâng cao năng lực học thuật, trường cũng đặc biệt quan tâm đến việc hỗ trợ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Với mạng lưới cựu sinh viên đông đảo và gắn kết, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng quỹ tín dụng sinh viên, cho phép người học vay học phí với lãi suất ưu đãi thông qua cơ chế bảo lãnh. Đối với những sinh viên có kết quả học tập xuất sắc, khoản vay này thậm chí có thể được chuyển thành học bổng hỗ trợ không hoàn lại.
Ở khâu tuyển sinh, nhà trường cũng điều chỉnh phương thức theo hướng đánh giá toàn diện và đa dạng năng lực của người học. Cách tiếp cận này góp phần nâng cao chất lượng đầu vào, từ đó cải thiện kết quả học tập và khả năng hoàn thành chương trình của sinh viên trong những năm gần đây.
Theo thầy Thắng, hiệu quả của những giải pháp này không thể phản ánh ngay trong thời gian ngắn. Bởi tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn được tính theo từng khóa học, nên cần theo dõi trong nhiều năm mới có thể đánh giá đầy đủ tác động của các chính sách và giải pháp mà nhà trường triển khai.