Quy định đầu ra từng loại hình nhiệm vụ nghiên cứu: CSGDĐH kỳ vọng đưa kết quả ra khỏi “ngăn kéo”

11/09/2026 06:25
Ngọc Mai

GDVN - Muốn thúc đẩy thương mại hóa của sản phẩm nghiên cứu thì việc yêu cầu đối với nghiên cứu phải có kết quả thương mại hóa là cần thiết. 

Dự thảo Thông tư quy định về quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo tài trợ, đặt hàng đang nhận được sự quan tâm của các cơ sở giáo dục đại học, nhất là những quy định về yêu cầu đối với kết quả dự kiến của từng loại hình nhiệm vụ.

Theo Khoản 3, Điều 4 dự thảo Thông tư, bên cạnh việc đáp ứng các tiêu chí, yêu cầu chung, nhiệm vụ khoa học và công nghệ phải bảo đảm yêu cầu về kết quả dự kiến tương ứng với từng loại hình nhiệm vụ.

Cụ thể, đối với nghiên cứu cơ bản, sản phẩm nghiên cứu phải có công bố khoa học trên các tạp chí quốc tế có uy tín, đồng thời hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh.

Đối với nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ, dự thảo nhấn mạnh yêu cầu về khả năng ứng dụng, chuyển giao hoặc thương mại hóa đối với công nghệ, quy trình, sản phẩm, giải pháp, mô hình được tạo ra từ kết quả nghiên cứu.

Đối với nhiệm vụ đổi mới sáng tạo, Hội đồng xét tài trợ, đặt hàng và Tổ thẩm định có thể có sự tham gia của doanh nghiệp, nhà đầu tư, chuyên gia về đổi mới sáng tạo. Dự thảo đồng thời ưu tiên những nhiệm vụ có sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức, nhà đầu tư, quỹ đầu tư hoặc chuyên gia có kinh nghiệm về ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, công nghệ.

Về cơ bản, những điểm mới này được đánh giá phù hợp với tinh thần chung của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, các nghị định liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ, đồng thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong quá trình hội nhập.

Tránh tình trạng kết quả nghiên cứu nằm trong “ngăn kéo”

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, các quy định theo hướng của dự thảo Thông tư sẽ tạo ra những chuyển biến tích cực trong quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Điểm mới của dự thảo hướng hoạt động nghiên cứu tới việc hình thành một “vòng tròn khép kín”, trong đó nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa có sự kết nối, bổ trợ và tạo đầu ra cho nhau.

thay-trinh.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: NVCC

“Chúng ta mong muốn làm sao để tạo được vòng tròn khép kín từ nghiên cứu cơ bản, ứng dụng, đến chuyển giao cho doanh nghiệp, rồi đến tay người tiêu dùng. Từ đó, kết quả thực tiễn quay ngược trở lại phục vụ cho nghiên cứu. Phát triển được vòng tròn khép kín này thì hoạt động khoa học, công nghệ sẽ có điều kiện phát triển mạnh. Đây cũng là triết lý theo tinh thần Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị đó là đưa khoa học, công nghệ đi vào trong đời sống.

Tuy nhiên, việc đưa khoa học, công nghệ vào đời sống không thể thực hiện một cách máy móc. Kết quả nghiên cứu cần tiếp tục được phát triển, nhân lên và hình thành những sản phẩm có khả năng được khẳng định trên thị trường, không chỉ ở trong nước mà còn ở thị trường quốc tế, trên phạm vi toàn cầu.

Cần khẳng định rằng, mỗi đề tài nghiên cứu cần được đặt trong vị trí của một chuỗi như vậy”, Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình phân tích.

Thầy Trình cũng cho rằng, ngay cả với nghiên cứu cơ bản, yêu cầu về đầu ra cũng cần được nhìn trong mối liên hệ với quá trình phát triển tiếp theo của khoa học và công nghệ.

“Đối với nghiên cứu cơ bản, cần cố gắng làm sao để đầu ra cuối cùng cũng phải được đưa vào đời sống, phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo. Như vậy mới góp phần tạo được một hệ sinh thái tốt và có sự kết nối chặt chẽ giữa các khâu”, thầy Trình nói.

Cùng chia sẻ, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hải Đăng - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội cho rằng, yêu cầu về đầu ra trong dự thảo là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, quá trình thực hiện có thể phát sinh những khó khăn nhất định, tùy thuộc vào tính chất và yêu cầu của đơn vị đặt hàng.

thay-dang.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hải Đăng – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: website nhà trường.

"Việc đặt yêu cầu cao hơn đối với kết quả nghiên cứu là phù hợp với chủ trương đưa sản phẩm khoa học, công nghệ vào phục vụ đời sống. Thực tế hiện nay, Việt Nam có khá nhiều bằng sáng chế, giải pháp hữu ích, nhưng số lượng được sử dụng thực sự để thương mại hóa vẫn còn ít.

Do đó, muốn thúc đẩy thương mại hóa của sản phẩm nghiên cứu thì việc yêu cầu đối với nghiên cứu phải có kết quả thương mại hóa là cần thiết”, thầy Đăng chia sẻ.

Cũng theo thầy Đăng, việc gắn nghiên cứu ứng dụng với doanh nghiệp cũng không phải vấn đề hoàn toàn mới. Đối với các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước hiện nay, sự tham gia của doanh nghiệp đã được đặt ra. Chẳng hạn, với đề tài ứng dụng, doanh nghiệp phải tham gia ít nhất 20%, qua đó tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu tiếp tục được phát triển và đăng ký thành sản phẩm sau khi hoàn thành nhiệm vụ.

Trong khi đó, Tiến sĩ Hoàng Thị Huyền - Phó Trưởng khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Nghệ An lưu ý rằng không nên đồng nhất giá trị của kết quả nghiên cứu với khả năng thương mại hóa.

Quy định mới theo hướng khuyến khích công nghệ, quy trình, sản phẩm, giải pháp, mô hình có khả năng ứng dụng, chuyển giao hoặc thương mại hóa là tích cực. Tuy nhiên, không phải mọi sản phẩm nghiên cứu đều có thể hoặc nhất thiết phải thương mại hóa. Khả năng thương mại hóa phụ thuộc vào nhu cầu thị trường, trong khi nhiều kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để giải quyết vấn đề thực tiễn của cơ quan, địa phương, làm cơ sở khuyến nghị chính sách, định hướng quản lý hoặc mang lại lợi ích cho cộng đồng dù không trực tiếp tạo ra sản phẩm thương mại.

“Cần xem xét đến khả năng ứng dụng dẫn tới thương mại hóa khi thị trường có nhu cầu. Bởi, cũng có những kết quả là khuyến nghị, hướng giải pháp góp phần xây dựng chính sách để cơ quan quản lý có định hướng phù hợp, hoặc những sản phẩm không thương mại nhưng vẫn hữu ích cho cộng đồng”, cô Huyền chia sẻ.

Quy định chặt chẽ để có kết quả nghiên cứu tốt hơn

Mức độ ưu tiên đối với từng loại hình nhiệm vụ cần được xem xét trên cơ sở tính chất của đề tài. Theo thầy Đăng, với nghiên cứu cơ bản, các trường vẫn cần ưu tiên bởi đây là nền tảng của nghiên cứu khoa học.

“Các nước có nền công nghiệp nghiên cứu khoa học phát triển thì đều có nền nghiên cứu khoa học cơ bản phát triển. Đấy chính là nền tảng để xây dựng nên nghiên cứu ứng dụng”, thầy Đăng nhấn mạnh.

Đối với nhiệm vụ đổi mới sáng tạo, thầy Đăng cho rằng sự tham gia của doanh nghiệp, quỹ đầu tư là hoàn toàn hợp lý, với điều kiện quá trình này phải bảo đảm không vi phạm liêm chính khoa học.

Khi doanh nghiệp cùng tham gia, nguồn lực cho nghiên cứu không còn chỉ đến từ ngân sách nhà nước mà có thể hình thành cơ chế “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, trong đó doanh nghiệp và các chủ thể xã hội cùng góp nguồn lực, cùng tham gia vào quá trình đưa kết quả nghiên cứu ra thực tiễn. Đây là mô hình được triển khai rộng rãi trên thế giới.

Tuy nhiên, thầy Đăng cho rằng môi trường để doanh nghiệp tham gia vào hoạt động nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam hiện vẫn chưa thực sự đủ thông thoáng. Một trong những điểm nghẽn nằm ở quá trình đưa sản phẩm nghiên cứu ra thị trường.

“Hiện nay, để đưa một sản phẩm nghiên cứu ra thị trường thì bị chi phối bởi nhiều luật khác nhau. Điều này đang được đơn giản hóa hơn, nhưng vẫn vướng các quy định về thẩm định giá.

Vấn đề đáng lưu ý đó là nâng yêu cầu đầu ra của nhiệm vụ nghiên cứu phải đi cùng với việc tháo gỡ các rào cản ở khâu chuyển giao và thương mại hóa. Nếu yêu cầu nhà khoa học tạo ra sản phẩm có khả năng thương mại hóa nhưng cơ chế định giá, chuyển giao và đưa sản phẩm ra thị trường vẫn còn vướng mắc, thì mục tiêu thúc đẩy thương mại hóa sẽ khó đạt được đầy đủ”, thầy Đăng cho hay.

Nguồn ảnh: USTH
Nguồn ảnh: USTH

Trong khi đó, cô Huyền đánh giá việc có doanh nghiệp, nhà đầu tư, chuyên gia đổi mới sáng tạo tham gia Hội đồng xét tài trợ, đặt hàng và Tổ thẩm định sẽ mở thêm cơ hội để sản phẩm nghiên cứu được ứng dụng trong thực tế.

Những yêu cầu mới sẽ tạo động lực để giảng viên, nhà khoa học chủ động hơn, nỗ lực nhiều hơn và nâng cao chất lượng nghiên cứu. Tuy nhiên, yêu cầu đầu ra cũng cần được xem xét phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.

Cụ thể, các ngành kỹ thuật, nông nghiệp có thể tạo ra những kết quả nghiên cứu có mức độ ứng dụng trực tiếp cao hơn. Trong khi đó, lĩnh vực kinh tế thường tạo ra các kết quả mang tính liên ngành, chẳng hạn những đề xuất chính sách phát triển kinh tế địa phương. Với lĩnh vực lý luận chính trị, việc hình thành sản phẩm nghiên cứu ứng dụng cũng có những đặc thù riêng.

Do đó, việc đổi mới cách quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ theo dự thảo là cần thiết, nhưng cần hỗ trợ phù hợp. Các trường đại học có thể tính tới việc thành lập vườn ươm và doanh nghiệp trong trường đại học để hỗ trợ nghiên cứu, tạo điều kiện cho sản phẩm nghiên cứu được tiếp tục phát triển và thương mại hóa.

Mặt khác, thầy Trình cho rằng, việc đặt từng nhiệm vụ nghiên cứu vào một chuỗi liên kết từ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao đến thị trường, yêu cầu đối với các nhà khoa học cũng sẽ thay đổi. Đây là quá trình cần thiết nhưng không thể diễn ra ngay lập tức đối với tất cả các chủ thể tham gia hoạt động khoa học, công nghệ.

“Tất nhiên, quy định mới sẽ làm cho các nhà khoa học hiện giờ chưa kịp thích nghi sẽ cảm thấy khó khăn nhất định”, thầy Trình bày tỏ.

Dù vậy, từ thực tế hoạt động chuyển giao công nghệ, thương mại hóa hiện chưa nhiều, thầy Trình cho rằng cần chấp nhận việc nâng yêu cầu để tạo sức ép cải thiện chất lượng đầu ra.

"Chúng ta cần có những quy định chặt chẽ hơn để có được kết quả nghiên cứu tốt hơn”, thầy Trình nhấn mạnh.

Ngọc Mai