Chuyên gia chỉ rõ bất cập khi dùng văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh để đáp ứng mọi yêu cầu về ngoại ngữ

14/10/2026 06:24
Khánh Vân

GDVN - Chuyên gia giáo dục cho rằng, đào tạo văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh cần bảo đảm chất lượng, tránh chạy theo bằng cấp khi năng lực ngoại ngữ thực tế chưa tương xứng.

Đào tạo văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh đang được nhiều cơ sở giáo dục đại học triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu của người học trong việc bổ sung kiến thức, nâng cao năng lực ngoại ngữ, chuyển đổi nghề nghiệp hoặc đáp ứng yêu cầu về ngoại ngữ trong quá trình học tập ở trình độ thạc sĩ, tiến sĩ.

Theo các chuyên gia giáo dục, việc lựa chọn văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh xuất phát từ nhiều mục tiêu khác nhau, do đó cần phân biệt giữa nhu cầu học tập thực chất và trường hợp người học cần một loại văn bằng để đáp ứng điều kiện về hồ sơ, tiêu chuẩn hoặc yêu cầu công việc.

Học chỉ để lấy "bằng"

Theo phóng viên tìm hiểu, trên thực tế mục đích học văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh của người học không phải lúc nào cũng xuất phát từ nhu cầu nâng cao năng lực ngoại ngữ. Có trường hợp tìm đến chương trình này chỉ để đáp ứng yêu cầu về ngoại ngữ của bậc học cao hơn.

Chia sẻ với phóng viên, anh Trần Hùng (tên nhân vật đã được thay đổi), học viên tốt nghiệp văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh năm 2026, xếp loại giỏi tại một cơ sở giáo dục đại học ở phía Bắc cho biết, bản thân anh vốn mất gốc tiếng Anh và theo học văn bằng 2 chủ yếu để đáp ứng yêu cầu đầu ra về ngoại ngữ trình độ thạc sĩ. Trước khi theo học văn bằng 2, anh từng nhiều lần tham gia thi chứng chỉ tiếng Anh để đáp ứng yêu cầu ngoại ngữ đầu ra nhưng không đạt nên quyết định theo học văn bằng 2 vì vừa được học online (trực tuyến) vừa được "hỗ trợ" khi đi thi.

"Tôi học kém ngoại ngữ nên tôi lựa chọn học văn bằng 2 này để đáp ứng đầu ra thạc sĩ. Tôi thi chứng chỉ tiếng Anh B2 5 lần không đỗ nên lựa chọn học như này cho thuận tiện", anh Hùng chia sẻ.

Anh Hùng cho biết thêm, chương trình đào tạo được tổ chức theo hình thức trực tuyến vào các buổi tối, thời gian học tương đối linh hoạt. Người học chỉ chỉ cần điểm danh xong làm gì thì làm. Ngoài ra, chương trình được thiết kế với 5 học kỳ, tuy nhiên người học có thể đăng ký học vượt để rút ngắn thời gian, khoảng 18-20 tháng có thể hoàn thành chương trình. Cụ thể, thay vì học 15 tín chỉ/kỳ, người học có thể đăng ký thêm tín chỉ thành 18 tín chỉ/kỳ để hoàn thành chương trình sớm hơn. Nhà trường cũng không yêu cầu về đầu ra nên chỉ cần học đủ tín chỉ sẽ ra được trường.

Khi phóng viên đề cập đến việc thi cuối kỳ, anh Hùng chia sẻ: "Khi thi sẽ "có hỗ trợ"".

Tương tự, một học viên đã tốt nghiệp văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh tại một cơ sở giáo dục đại học ở phía Bắc vào năm 2024 cho biết, chị học chủ yếu để lấy bằng nhằm đáp ứng yêu cầu đầu ra ngoại ngữ của chương trình thạc sĩ, chứ không có nhu cầu sử dụng tiếng Anh trong công việc hay cuộc sống. Quá trình học cũng không giúp bản thân chị tích lũy được kiến thức hay nâng cao năng lực ngoại ngữ.

Theo lời chị kể, chương trình kéo dài khoảng 18 tháng, được tổ chức trực tuyến. Trong các buổi học, người học chỉ cần mở máy tính để tham gia lớp, không cần tương tác với giảng viên. Các kỳ thi kết thúc học phần được tổ chức gộp nhiều môn trong vòng 1-2 ngày. Khi đến phòng thi sẽ được "hỗ trợ" từ bên tuyển sinh.

Những chia sẻ trên cho thấy khoảng cách giữa việc hoàn thành một chương trình đào tạo và năng lực thực tế người học đạt được.

van-bang-2-2.jpg
Ảnh minh họa: AI.

Không nên dùng văn bằng 2 để chứng minh mọi yêu cầu về ngoại ngữ

Dưới góc độ chuyên gia giáo dục, Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh, nguyên Giám đốc Trung tâm Khảo thí và đánh giá chất lượng đào tạo (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, văn bằng 2 đại học được xem là giấy xác nhận một quá trình đào tạo và năng lực của người học, trong đó có những giá trị không mất đi theo thời gian.

Giáo dục đại học có hai mục tiêu song song. Thứ nhất là trang bị cho người học kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để có thể sử dụng khi tốt nghiệp. Chẳng hạn, sinh viên học tiếng Anh sau khi ra trường sẽ có khả năng giảng dạy, biên dịch hoặc làm những công việc liên quan đến chuyên môn. Tuy nhiên, những kỹ năng nghề nghiệp này cần được rèn luyện và cập nhật thường xuyên. Nếu không sử dụng ngoại ngữ trong thời gian dài, kỹ năng nghe, nói hoặc giao tiếp bằng ngoại ngữ có thể suy giảm, dù văn bằng đại học của họ vẫn còn nguyên giá trị.

Thứ hai, giáo dục đại học hướng tới việc hình thành năng lực tư duy, khả năng tiếp nhận và xử lý tri thức, phân tích, phán đoán, đặt câu hỏi và giải quyết vấn đề. Đây là những năng lực có giá trị lâu dài hơn. Mặc dù người học sau nhiều năm không trực tiếp làm nghề nhưng vẫn có thể duy trì năng lực về tư duy, phán đoán, đọc hiểu hay xử lý vấn đề. Vì vậy, giá trị lâu dài của bằng đại học không chỉ nằm ở kỹ năng nghề nghiệp cụ thể, mà ở việc người học đã trải qua quá trình đào tạo về tri thức và tư duy.

Như vậy, cần phân biệt rõ văn bằng đại học với chứng nhận về một kỹ năng cụ thể tại một thời điểm, nhất là ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng - một kỹ năng cần được sử dụng và cập nhật thường xuyên. Việc sử dụng văn bằng đại học để chứng minh một người đang có năng lực ngoại ngữ tại một thời điểm cụ thể là chưa phù hợp. Ngay cả người tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ Anh, nếu sau nhiều năm không sử dụng tiếng Anh khả năng nghe, nói hoặc giao tiếp vẫn có thể suy giảm.

Thực tế hiện nay nhiều đơn vị yêu cầu ứng viên phải đáp ứng năng lực về tiếng Anh tại thời điểm tuyển dụng, nhưng văn bằng đại học không thể thay thế cho một chứng nhận về kỹ năng nếu yêu cầu đặt ra là phải chứng minh kỹ năng đó ở thời điểm hiện tại.

Theo cô Phương Anh, nếu một người thực sự cần sử dụng tiếng Anh trong công việc sẽ cần chứng minh năng lực ngoại ngữ phù hợp với vị trí và nhiệm vụ cụ thể. Ngược lại, nếu công việc không đòi hỏi sử dụng ngoại ngữ thường xuyên, việc đặt ra một yêu cầu mang tính hình thức có thể dẫn đến tình trạng người học phải đáp ứng một tiêu chuẩn nhưng sau đó không sử dụng đến.

Yêu cầu mang tính hình thức này cũng có thể góp phần tạo ra nhu cầu học văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh lớn, bởi những người đã có một bằng đại học khi cần đáp ứng yêu cầu về ngoại ngữ sẽ chọn học văn bằng 2, dù mục tiêu thực sự không phải chuyển sang làm việc trong lĩnh vực ngôn ngữ hoặc sử dụng tiếng Anh thường xuyên.

Trong trường hợp này, việc học văn bằng 2 để thay thế cho yêu cầu về năng lực ngoại ngữ có thể làm lệch mục tiêu của cả chương trình đào tạo và người học. Chỉ khi người học muốn chuyển sang một nghề nghiệp mới liên quan đến tiếng Anh, việc đào tạo chuyên sâu về ngôn ngữ Anh mới cần thiết. Nếu mục đích chỉ để chứng minh khả năng sử dụng tiếng Anh thì một văn bằng đại học có giá trị "vĩnh viễn" không phải là phương thức phù hợp để đánh giá kỹ năng đó.

Vì vậy, trong những trường hợp yêu cầu đặt ra nhằm xác định khả năng sử dụng ngoại ngữ tại thời điểm tuyển dụng hoặc chương trình đào tạo yêu cầu nên sử dụng chứng chỉ hoặc kỳ thi đánh giá năng lực ngoại ngữ, thay vì sử dụng văn bằng 2. Chứng chỉ có thời hạn sẽ phản ánh đúng hơn thực tế năng lực ngoại ngữ là một kỹ năng cần được sử dụng, cập nhật thường xuyên và có thể thay đổi theo thời gian. Đặc biệt, chỉ khi công việc, chương trình đào tạo thực sự yêu cầu sử dụng ngoại ngữ mới nên đánh giá năng lực ngoại ngữ tương ứng với yêu cầu.

"Tiếng Anh là cần thiết trong nhiều lĩnh vực, nhưng không phải tất cả mọi người đều có nhu cầu sử dụng tiếng Anh ở mức độ như nhau. Nếu quy định áp dụng đồng loạt mà không căn cứ vào yêu cầu thực tế rất dễ tạo ra nhu cầu mang tính hình thức. Cần đặt câu hỏi rằng người học có thực sự cần kỹ năng đó hay không và công việc có thực sự yêu cầu hay không. Nếu cần thì đánh giá đúng kỹ năng cần thiết; nếu không cần thì không nên tạo ra một yêu cầu hình thức khiến người học phải học và thi chỉ để đáp ứng quy định", cô Phương Anh nhận định.

anh-minh-hoa.jpg
Ảnh minh họa: Website Trường Đại học Ngoại ngữ Tin học Thành phố Hồ Chí Minh.

Cần "siết" chuẩn đầu ra và đánh giá thực chất

Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống - chuyên gia giáo dục cho rằng, việc đào tạo văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của người học, nhất là những người đã tốt nghiệp đại học nhưng muốn nâng cao trình độ tiếng Anh và có thêm một văn bằng để đáp ứng yêu cầu công việc hoặc học tập. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải bảo đảm chất lượng đào tạo, tránh tình trạng người học có văn bằng nhưng năng lực ngoại ngữ không tương xứng. Khi học văn bằng 2 với mục đích để có một loại "giấy tờ" mà không có năng lực, việc đào tạo sẽ gây lãng phí.

Văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh hiện được sử dụng cho nhiều mục đích, từ đó làm tăng nhu cầu học văn bằng 2 ngành học này. Tuy vậy, các cơ sở đào tạo cần bảo đảm người học thực sự đạt được năng lực ngoại ngữ tương xứng, thay vì chỉ chú trọng cấp bằng.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống cũng cho rằng, hiện nay nhiều cơ sở giáo dục đào tạo văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh theo hình thức đào tạo từ xa, học trực tuyến, nhưng việc học trực tuyến chỉ phù hợp với người có nhu cầu tự học, tự nâng cao trình độ của bản thân. Khi chương trình được tổ chức học tập với mục đích cấp văn bằng, yêu cầu về chất lượng và mức độ tương tác trong đào tạo cần được đặt ở mức cao hơn.

"Không thể chỉ thu bài giảng rồi cho người học tự học. Ngoại ngữ cần sự tương tác giữa người học với người dạy, cần thực hành giao tiếp. Nếu thiếu những yếu tố trên sẽ rất khó bảo đảm người được cấp bằng thực sự có năng lực tương ứng", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống nhấn mạnh.

thay-tong-tsdt-05-20240811.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống - chuyên gia giáo dục. Ảnh: Tự Trung.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống, yêu cầu trình độ tiếng Anh cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của từng công việc, vị trí tuyển dụng hoặc chương trình học tập. Chỉ khi công việc hoặc chương trình đào tạo thực sự đòi hỏi năng lực ngoại ngữ, tiếng Anh mới nên là yêu cầu bắt buộc. Ngược lại, nếu không cần sử dụng tiếng Anh, việc đặt ra điều kiện ngoại ngữ có thể tạo thêm áp lực và chi phí cho người học, trong khi chưa chắc mang lại giá trị thiết thực.

Đặc biệt, việc sử dụng văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh để xác định năng lực ngoại ngữ của người học trong mọi điều kiện là chưa phù hợp. Nếu chỉ căn cứ vào việc người học đã hoàn thành đủ số tín chỉ để công nhận năng lực ngoại ngữ sẽ khó bảo đảm đánh giá đúng trình độ thực tế. Thậm chí, có thể xuất hiện tình trạng người học lựa chọn những cơ sở giáo dục không yêu cầu về đầu ra để lấy bằng, sau đó sử dụng văn bằng này thay cho chứng chỉ ngoại ngữ dù năng lực thực tế chưa đáp ứng yêu cầu.

Để khắc phục tình trạng trên, cần xây dựng chuẩn đầu ra thống nhất, đồng thời tăng cường kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo tại các cơ sở giáo dục. Cơ quan quản lý có thể tổ chức khảo sát, kiểm tra đột xuất năng lực ngoại ngữ của người tốt nghiệp văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh, đối chiếu kết quả giữa các trường và công bố công khai để người học có thêm căn cứ lựa chọn chương trình phù hợp. Qua đó, những cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu phải khắc phục, điều chỉnh chương trình đào tạo. Chất lượng đào tạo phải được xác định dựa trên năng lực thực tế của người học, thay vì chỉ căn cứ vào số tín chỉ người học đã tích lũy.

Đồng quan điểm, nguyên Hiệu trưởng 1 trường đại học khu vực phía Nam cho rằng, cần phân biệt giữa việc thực sự hình thành năng lực tiếng Anh và việc sở hữu một văn bằng nhằm đáp ứng điều kiện về hồ sơ. Thực tế cho thấy ở một số trường, chương trình, thời lượng học tập và quy trình kiểm tra, đánh giá đối với văn bằng 2 được tổ chức theo hướng đơn giản hóa. Nếu những khâu này không bảo đảm yêu cầu tương xứng với chuẩn đầu ra, việc người học được cấp văn bằng nhưng chưa thực sự hình thành năng lực ngoại ngữ tương ứng là vấn đề đặt ra yêu cầu phải bảo đảm chất lượng đào tạo thực chất.

Ví dụ, với hình thức đào tạo từ xa, người học chủ yếu tham gia các hoạt động học tập trực tuyến, hoàn thành bài tập và nộp bài để được đánh giá. Quá trình đào tạo chỉ dừng ở những khâu này mà thiếu các hoạt động tương tác, hướng dẫn, đánh giá quá trình học tập hay mức độ tham gia của người học, các yếu tố sư phạm có thể không được bảo đảm.

Một vấn đề khác là văn bằng 2 có giá trị sử dụng lâu dài, trong khi năng lực ngoại ngữ có thể thay đổi theo thời gian. Vì vậy, để xác định năng lực tiếng Anh của người học tại một thời điểm nhất định, việc sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ với thời hạn nhất định sẽ phù hợp hơn với mục tiêu đánh giá năng lực tại thời điểm đó.

Khi năng lực thực tế trở thành yêu cầu chính, thay vì chỉ căn cứ vào bằng cấp, văn bằng 2 sẽ không còn là lựa chọn phù hợp với những người chỉ cần bổ sung một loại giấy tờ để hoàn thiện hồ sơ. Khi đó, đối tượng tìm đến ngành học này sẽ có xu hướng là những người thực sự có nhu cầu học tập, sử dụng tiếng Anh.

"Yêu cầu về trình độ tiếng Anh cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của từng công việc và chương trình đào tạo.

Đơn cử, đối với các chương trình đào tạo có yêu cầu chuyên môn đặc thù, như chương trình tiến sĩ đòi hỏi nghiên cứu sinh đọc tài liệu quốc tế, viết và công bố bài báo khoa học bằng tiếng Anh, năng lực ngoại ngữ là điều kiện quan trọng để bảo đảm chất lượng nghiên cứu. Khi đó, việc đánh giá cần gắn với khả năng sử dụng tiếng Anh trong thực tế, nhất là năng lực đọc hiểu tài liệu chuyên ngành và viết học thuật. Như vậy, yêu cầu ngoại ngữ cần được thiết kế theo chuẩn đầu ra và mục đích sử dụng cụ thể, bảo đảm người học có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu của chương trình", vị hiệu trưởng bày tỏ.

Khánh Vân