Khi văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh trở thành “tấm vé” được săn tìm
Trong nhiều năm qua, văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh vẫn duy trì sức hút trên thị trường đào tạo. Không chỉ số lượng người tìm kiếm thông tin về chương trình này, nhiều cơ sở giáo dục đại học cũng liên tục tổ chức tuyển sinh với các hình thức đào tạo khác nhau.
Đáng chú ý, nhóm tìm đến văn bằng 2 không chỉ là những người trẻ muốn học thêm một ngành. Một bộ phận đáng kể là những người đã đi làm, đã có bằng đại học và đang đứng trước những yêu cầu mới về công việc, bằng cấp hoặc kế hoạch học tập.
Mục tiêu của họ cũng rất khác nhau. Có người học vì công việc hiện tại ngày càng đòi hỏi tiếng Anh. Có người muốn chuyển sang một lĩnh vực mới. Có người cần thêm một văn bằng để hoàn thiện hồ sơ cho một vị trí việc làm. Có người tính đường học tiếp thạc sĩ, tiến sĩ. Cũng có người đơn giản muốn có thêm một phương án dự phòng nếu công việc hiện tại không còn phù hợp.
Chính sự đa dạng về mục tiêu khiến văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh không chỉ được nhìn như một chương trình học ngoại ngữ, mà như một “tấm vé” có thể mở ra nhiều hướng đi khác nhau trong nghề nghiệp.
Học nhanh, linh hoạt, đầu vào dễ dàng, đầu ra thuận lợi
Về bản chất, văn bằng 2 là cách gọi phổ biến đối với trường hợp một người đã có bằng đại học tiếp tục học một chương trình đại học khác. Sau khi hoàn thành chương trình và đáp ứng điều kiện cấp bằng, người học được cấp bằng cử nhân ngành Ngôn ngữ Anh.
Vì vậy, sức hút của văn bằng 2 nằm ở chính sự khác biệt này. Người học không chỉ có thêm một chứng nhận về năng lực ngoại ngữ mà có thêm một văn bằng đại học ở một lĩnh vực chuyên môn mới.
Bên cạnh đó, người đã có bằng đại học không mặc nhiên phải học lại toàn bộ các học phần từng hoàn thành. Tùy quy định của cơ sở đào tạo, kết quả học tập đã tích lũy có thể được xem xét công nhận, chuyển đổi.
Điều này khiến việc học thêm một bằng đại học trở nên thuận tiện và dễ dàng hơn với người đã đi làm. Thời gian đào tạo ngắn, linh hoạt cũng là yếu tố thu hút người học quan tâm. Trên thị trường tuyển sinh hiện nay, không khó bắt gặp những quảng cáo nhấn mạnh thời gian đào tạo khoảng 18-20 tháng, xét tuyển hồ sơ, không thi đầu vào hoặc học trực tuyến 100%.
Chỉ cần gõ cụm từ “văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh” trên Facebook, hàng loạt thông tin tuyển sinh lập tức xuất hiện. Những cụm từ như “học online”, “linh hoạt thời gian”, “dành cho người đi làm”, “rút ngắn thời gian học” được sử dụng dày đặc.
“Tấm vé” cho nhiều mục tiêu
Một trong những lý do khiến văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh được đặt cạnh các chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế như IELTS, TOEIC hay TOEFL chính là vấn đề thời hạn sử dụng.
Các chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế thường được sử dụng để phản ánh năng lực tiếng Anh tại thời điểm đánh giá và nhiều tổ chức thường yêu cầu kết quả trong một khoảng thời gian nhất định. Chẳng hạn như IELTS khuyến nghị kết quả được xem xét trong thời gian khoảng 2 năm.
Trong khi đó, bằng cử nhân Ngôn ngữ Anh không phải là một chứng chỉ năng lực ngoại ngữ có thời hạn 2 năm mà có thời hạn vĩnh viễn.
Sự khác biệt này khiến một bộ phận người học lựa chọn bỏ ra vài chục triệu đồng để đầu tư vào một chương trình đại học để có thêm một văn bằng với giá trị sử dụng lâu dài, thay vì phải thi lại chứng chỉ ngoại ngữ sau một thời gian.
Bên cạnh đó, trên thị trường tuyển sinh, không khó để bắt gặp những lời giới thiệu về việc văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh có thể hỗ trợ hồ sơ công chức, viên chức, nâng ngạch hoặc phục vụ điều kiện ngoại ngữ khi học sau đại học. Những thông tin này đánh trúng vào một nhu cầu có thật.
Theo Thông tư 23/2021/TT-BGDĐT, người dự tuyển thạc sĩ phải đáp ứng yêu cầu về năng lực ngoại ngữ tối thiểu Bậc 3 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam; khi xét tốt nghiệp, học viên phải đáp ứng chuẩn đầu ra ngoại ngữ tương đương Bậc 4.
Đối với tuyển sinh tiến sĩ, Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT quy định người dự tuyển là công dân Việt Nam phải đáp ứng yêu cầu về năng lực ngoại ngữ, có thể được minh chứng bằng bằng tốt nghiệp đại học ngành ngôn ngữ nước ngoài do cơ sở đào tạo của Việt Nam cấp hoặc chứng chỉ ngoại ngữ tương đương Bậc 4 theo quy định.
Trong các trường hợp trên, bằng tốt nghiệp đại học trở lên ngành ngôn ngữ nước ngoài, trong đó có Văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh được xem là một trong những minh chứng năng lực ngoại ngữ hợp pháp.
Từ ngày 1/1/2027, các khóa tuyển sinh thạc sĩ, tiến sĩ có thông báo tuyển sinh sẽ áp dụng Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT, thay thế Thông tư 23/2021 và Thông tư 18/2021. Theo quy định mới, yêu cầu về năng lực ngoại ngữ được xác định theo chuẩn của từng chương trình đào tạo, thay vì áp dụng một mức sàn chung cho tất cả chương trình. Trong thời gian chờ Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chuẩn chương trình đào tạo tương ứng, mức sàn tối thiểu về năng lực ngoại ngữ đầu vào vẫn áp dụng theo khung tham chiếu trước đó.
Không chỉ liên quan đến tuyển sinh và đào tạo sau đại học, ngoại ngữ còn là một yêu cầu trong quá trình xét công nhận đạt tiêu chuẩn và bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư thời gian qua.
Theo Quyết định 37/2018/QĐ-TTg, “sử dụng thành thạo ngoại ngữ phục vụ công tác chuyên môn” là một trong những tiêu chuẩn được xem xét đối với ứng viên giáo sư, phó giáo sư cũng như thành viên Hội đồng Giáo sư nhà nước, Hội đồng Giáo sư ngành/liên ngành và Hội đồng Giáo sư cơ sở.
Một trong những căn cứ xác định năng lực này là đạt trình độ ngoại ngữ từ Bậc 4 trở lên theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam. Với người có bằng tốt nghiệp đại học ngành Ngôn ngữ Anh, văn bằng này có thể được sử dụng để minh chứng năng lực ngoại ngữ theo yêu cầu, nếu đáp ứng điều kiện của quy định.
Ở lĩnh vực việc làm, quy định về tuyển dụng viên chức hiện hành cũng cho thấy một giá trị khác của bằng chuyên ngành ngoại ngữ. Trước đây, trong một số trường hợp, người có bằng chuyên ngành ngoại ngữ (ở đây là văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh) có thể được miễn thi ngoại ngữ khi tuyển dụng công chức, viên chức. Tuy nhiên, từ ngày 1/7/2025, Nghị định 170/2025/NĐ-CP đã thay đổi quy định về thi tuyển công chức, không còn áp dụng cơ chế miễn thi ngoại ngữ chung chỉ dựa trên việc có bằng ngoại ngữ.
Trong khi đó, đối với tuyển dụng viên chức, quy định hiện hành vẫn ghi nhận trường hợp người có văn bằng, chứng chỉ đáp ứng yêu cầu về trình độ ngoại ngữ của vị trí việc làm được miễn kiểm tra ngoại ngữ tại vòng 1 (theo Nghị định số 259/2026/NĐ-CP). Vì vậy, văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh, nếu đáp ứng yêu cầu của vị trí tuyển dụng, có thể giúp người dự tuyển viên chức không phải thực hiện phần kiểm tra ngoại ngữ.
Ngoài ra, việc sở hữu bằng đại học ngành ngoại ngữ còn có thể tạo thuận lợi cho người học khi tham gia giảng dạy bằng tiếng nước ngoài. Theo Nghị định 222/2025/NĐ-CP, người có bằng tốt nghiệp cử nhân ngoại ngữ hoặc sư phạm ngoại ngữ tại Việt Nam thuộc trường hợp được miễn yêu cầu về năng lực ngoại ngữ khi dạy và học bằng tiếng nước ngoài. Như vậy, với người đã có bằng đại học ở một ngành khác, văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh có thể mở thêm một hướng sử dụng chuyên môn, bên cạnh mục tiêu nâng cao năng lực ngoại ngữ.
Đây là một trong những cơ sở khiến văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh được một bộ phận người học cân nhắc như một khoản đầu tư cho nghề nghiệp.
Khi nhu cầu tăng, bài toán chất lượng cũng được đặt ra
Một văn bằng được nhiều người tìm kiếm tất nhiên tạo ra thị trường đào tạo đáng kể. Càng nhiều người muốn học, càng có nhiều cơ sở tổ chức các chương trình đào tạo với những phương thức khác nhau. Nhưng chính sự phát triển này cũng đặt ra câu hỏi về mặt bằng chung chất lượng.
Đặc biệt, khi văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh bị gắn với quá nhiều mục tiêu như việc làm, tuyển dụng, học sau đại học hay đáp ứng yêu cầu ngoại ngữ, nguy cơ người học chỉ quan tâm đến tấm bằng mà xem nhẹ năng lực thực tế cũng trở thành vấn đề cần được lưu ý.
Thực tế những năm qua đã ghi nhận nhiều vụ việc liên quan đến văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh và chứng chỉ ngoại ngữ, từ tổ chức đào tạo không đúng quy định đến cấp chứng chỉ, văn bằng không hợp pháp, thu tiền trái quy định. Điều này cho thấy nếu công tác tuyển sinh, tổ chức đào tạo và quản lý văn bằng không được kiểm soát chặt chẽ, hệ quả không chỉ dừng ở chất lượng đào tạo.
Vụ án tại Trường Đại học Đông Đô là một ví dụ đặc biệt nghiêm trọng. Theo kết luận của cơ quan tố tụng, lãnh đạo và một số cán bộ nhà trường đã tổ chức đào tạo, cấp văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh trái quy định, trong đó có việc cấp bằng cho những người không đủ điều kiện. Vụ án đã được đưa ra xét xử và nhiều bị cáo bị xử lý hình sự. [1]
Hay vụ việc tại Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Nhà trường liên tục bị Bộ Giáo dục và Đào tạo tuýt còi và lập biên bản vì tự ý tuyển sinh vượt chỉ tiêu, đặt địa điểm đào tạo ngoài trụ sở và mở "chui" loạt lớp văn bằng 2 khi chưa được cấp phép. Sai phạm kéo dài này khiến nhiều học viên rơi vào cảnh tiền mất tật mang do không thể nhận bằng dù đã hoàn thành chương trình. Nhà trường buộc phải tổ chức kiểm điểm, xử lý kỷ luật nhiều cán bộ phòng ban và xây dựng phương án bồi thường cho người học. [2]
Những vụ việc như vậy cho thấy sức hút của một loại văn bằng càng lớn thì yêu cầu kiểm soát chất lượng, điều kiện tuyển sinh, quá trình đào tạo và việc cấp bằng càng phải được đặt lên hàng đầu.
Bởi nếu người học tìm đến văn bằng 2 chỉ vì coi đó là một “tấm vé” để hoàn thiện hồ sơ, trong khi năng lực ngoại ngữ thực tế không tương xứng, mục tiêu ban đầu có thể bị đảo ngược, khi đó, người học có thêm một văn bằng nhưng chưa chắc có thêm năng lực ngoại ngữ.
Tài liệu tham khảo:
[1]: https://vov.vn/xa-hoi/vu-dai-hoc-dong-do-loan-bang-cap-chung-chi-nhieu-nguoi-ca-gan-lam-lieu-821083.vov
[2]: https://giaoduc.net.vn/vu-mo-chui-lop-vb2-truong-dh-kinh-doanh-va-cong-nghe-hn-xu-ly-nhieu-can-bo-post250302.gd