Theo thống kê của Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, khu vực miền Bắc hiện có khoảng 35 cơ sở giáo dục đại học đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh với nhiều hình thức khác nhau. Trong số đó, khoảng 5 cơ sở đào tạo theo hình thức chính quy, 7 cơ sở đào tạo vừa làm vừa học; 9 cơ sở triển khai đồng thời từ xa và vừa làm vừa học; 14 cơ sở đào tạo từ xa.
Qua tìm hiểu cho thấy, người học văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh có xu hướng ưu tiên các chương trình đào tạo theo hình thức từ xa, trong đó nhiều người ưu tiên lựa chọn các cơ sở giáo dục đại học ngoài Hà Nội. Xu hướng này khá rõ ở nhóm người học đang sinh sống, làm việc tại Hà Nội, nhưng có nhu cầu lựa chọn chương trình đào tạo linh hoạt về thời gian và địa điểm học tập.
Có người chọn học văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh từ xa để “dễ thở” từ học đến thi
Chị T.H (sinh năm 2000, quê Hà Nội) hiện đang công tác tại Hà Nội và theo học chương trình thạc sĩ. Để đủ điều kiện tốt nghiệp, chị H. cần đáp ứng chuẩn đầu ra về ngoại ngữ.
Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, trước đó, chị H. đã 5 lần tham gia các kỳ thi chứng chỉ ngoại ngữ, trong đó có VSTEP, nhưng chưa đạt trình độ B2. Chị cho biết, năng lực ngoại ngữ còn hạn chế, trong khi công việc bận rộn nên không có nhiều thời gian ôn luyện.
“Sau 5 lần thi nhưng chưa đạt B2, tôi bắt đầu tìm một phương án khác phù hợp với điều kiện của bản thân. Tôi cần một chương trình vừa đáp ứng yêu cầu về văn bằng, vừa phù hợp với quỹ thời gian đang có”, chị H chia sẻ.
Qua tìm hiểu thông tin trên các hội nhóm và quảng cáo về chương trình văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh, chị nhận thấy một số chương trình có thời gian đào tạo khoảng 1,5-2 năm. Cùng với mức học phí được chị đánh giá là thấp hơn một số trường tại Hà Nội, thời gian và hình thức học linh hoạt là những yếu tố khiến chị lựa chọn chương trình từ xa của một trường đại học chuyên đào tạo ngoại ngữ ở miền Trung.
Theo chị H., một số chương trình khác yêu cầu người học đến lớp và thi trực tiếp, thời gian đào tạo kéo dài 3-4 năm nên khó phù hợp với người vừa đi làm, vừa học thạc sĩ.
“Công việc của tôi khá bận, trong khi cần hoàn thành điều kiện ngoại ngữ để tốt nghiệp thạc sĩ. Với chương trình học trực tiếp và thời gian đào tạo dài, tôi khó sắp xếp. Chương trình đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh hình thức từ xa, từ học cho đến thi cử đều “dễ thở” hơn đối với tôi. Hơn nữa, chuẩn đầu ra cũng không yêu cầu phải có chứng chỉ ngoại ngữ như một số trường đào tạo hình thức chính quy”, chị H nói.
Với chương trình từ xa, chị H. cho biết phần lớn việc học được chủ động theo thời gian cá nhân. Chị thường học vào buổi tối, khoảng 3-4 giờ mỗi buổi. Các buổi học được tổ chức qua Zoom, cán bộ quản lý đào tạo có thể tham gia lớp để điểm danh người học.
Tuy nhiên, quy mô lớp học khá lớn. Có lớp hơn 300 người, một số môn được tổ chức học chung hai lớp khai giảng cùng đợt. Với số lượng người học đông, việc tương tác giữa giảng viên và từng sinh viên khó sâu sát.
“Có những buổi học số lượng người rất đông nên chủ yếu nghe giảng, theo dõi nội dung trên hệ thống. Việc trao đổi trực tiếp với giảng viên không phải lúc nào cũng thuận lợi”, chị H. chia sẻ.
Về kiểm tra, đánh giá, chị H. cho biết người học vẫn thực hiện các bài kiểm tra, thi theo yêu cầu của chương trình. Bài kiểm tra giữa kỳ và một số bài thi cuối kỳ thực hiện trên hệ thống LMS của nhà trường, riêng với học phần thi nói, người học sẽ giao tiếp với cán bộ coi thi qua nền tảng Zoom. Còn lại, các môn học đều tổ chức thi cuối kỳ tại trạm đào tạo ở Hà Nội. Đáng nói là người học có thể được tạo điều kiện hoàn thành tốt bài thi.
“Với người đi làm như tôi, học từ xa rất thuận tiện vì có thể chủ động thời gian. Nhưng thuận tiện cũng có mặt trái là nếu bản thân không tự giác thì rất dễ học đối phó. Có những thời điểm tôi phải cố gắng sắp xếp công việc để dành thời gian học”, chị H. nói.
Chị H. thừa nhận, mục tiêu ban đầu của bản thân chủ yếu là hoàn thành chương trình và có văn bằng đáp ứng điều kiện tốt nghiệp thạc sĩ. Tuy nhiên, việc hoàn thành chương trình và được cấp bằng chưa đồng nghĩa với việc có thể sử dụng tiếng Anh thành thạo trong thực tế.
“Mục tiêu ban đầu của tôi là có văn bằng để đáp ứng điều kiện chuẩn đầu ra. Còn để sử dụng tiếng Anh thành thạo trong công việc, tôi nghĩ bản thân vẫn phải tiếp tục học và rèn luyện. Hai việc đó không hoàn toàn giống nhau”, chị H. chia sẻ.
Chú trọng năng lực thực, người học chọn văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh hình thức chính quy
Trường Đại học Hà Nội là một trong số ít cơ sở đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh hình thức chính quy. Nhà trường bắt đầu triển khai đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh hình thức chính quy từ năm 1999 cho đến nay. Mỗi năm, nhà trường tổ chức tuyển sinh hai đợt.
Chia sẻ với phóng viên, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hà Nội cho biết, chương trình đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh được tổ chức theo hình thức chính quy, với phương thức đào tạo trực tiếp và tối đa 30% thời lượng học trực tuyến trên nền tảng số theo quy định.
Chương trình đào tạo có cấu trúc tương tự chương trình văn bằng thứ nhất ngành Ngôn ngữ Anh hình thức chính quy, với tổng khối lượng 131 tín chỉ. Tuy nhiên, căn cứ vào kết quả học tập ở văn bằng đại học đầu tiên, Nhà trường xem xét công nhận và miễn các học phần tương ứng mà người học đã hoàn thành.
Cụ thể, đối với những học phần đại cương đã được người học tích lũy ở chương trình đại học trước đó và được hệ thống giáo dục quốc dân công nhận, sinh viên có thể đề nghị miễn học phần phù hợp. Việc công nhận, miễn học phần phụ thuộc vào ngành đào tạo ở văn bằng thứ nhất (có thể là nhóm ngành kỹ thuật, kinh tế hoặc nhân văn) và nội dung kiến thức mà người học đã tích lũy.
Làm rõ hơn về tổ chức đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh hình thức chính quy, theo thầy Dũng, trước hết, về tổ chức học tập, sinh viên chủ yếu học trực tiếp. Nhà trường bố trí một số lớp vào giờ hành chính trong tuần dành cho người học có nhu cầu; phần lớn các lớp được tổ chức vào buổi tối và cuối tuần.
"Cách bố trí thời gian này xuất phát từ đặc điểm của đối tượng người học bằng đại học thứ 2 chủ yếu là người đang đi làm nên việc xin nghỉ làm để tham gia các lớp học trong giờ hành chính có thể gặp khó khăn", thầy Dũng chia sẻ.
Đối với yêu cầu đầu vào, thí sinh đăng ký học phải tham gia xét tuyển dựa trên kết quả học tập chương trình giáo dục phổ thông và kết quả học tập ở văn bằng đại học thứ nhất. Từ các dữ liệu này, nhà trường áp dụng công thức quy đổi thành điểm xét tuyển, sau đó xét từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Điểm chuẩn trúng tuyển có thể thay đổi qua từng năm, tùy thuộc vào số lượng hồ sơ đăng ký và chỉ tiêu tuyển sinh được xác định.
Sinh viên phải đáp ứng đầy đủ chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo chính quy, trong đó có chuẩn đầu ra về ngoại ngữ. Cụ thể, sinh viên phải tham dự kỳ thi sát hạch chuẩn đầu ra ngoại ngữ được trường tổ chức. Trường hợp người học đã có chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế đáp ứng yêu cầu năng lực theo quy định, chẳng hạn chứng chỉ IELTS tối thiểu 7.0, có thể được xét miễn chuẩn đầu ra tiếng Anh.
"Để được xét công nhận tốt nghiệp và cấp bằng đại học thứ hai, sinh viên phải đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo và chuẩn đầu ra ngoại ngữ, trong đó có mức điểm IELTS từ 7.0 trở lên. Ngoài chứng chỉ IELTS, Nhà trường chấp nhận các chứng chỉ ngoại ngữ khác theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo", thầy Dũng cho biết.
Liên quan đến thực tế một số cơ sở đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh theo hình thức vừa làm vừa học, từ xa hiện nay không yêu cầu người học phải có chứng chỉ ngoại ngữ để đáp ứng chuẩn đầu ra, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng cho biết, quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các chương trình đào tạo phải xác định chuẩn đầu ra. Do đó, việc người học phải đáp ứng chuẩn đầu ra là yêu cầu bắt buộc, còn cách thức đánh giá việc đạt chuẩn ra có thể khác nhau tùy thuộc vào thiết kế chương trình đào tạo theo quyền tự chủ của cơ sở đào tạo.
"Các trường có thể đánh giá chuẩn đầu ra thông qua một bài thi độc lập, sử dụng chứng chỉ do tổ chức bên ngoài cấp hoặc căn cứ vào kết quả hoàn thành những học phần được thiết kế để đáp ứng chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.
Trong trường hợp một cơ sở đào tạo bằng đại học thứ 2 ngành Ngôn ngữ Anh không yêu cầu người học nộp chứng chỉ ngoại ngữ hoặc tham gia một bài thi độc lập, cần xem xét cách thức cơ sở đó thiết kế và đánh giá chuẩn đầu ra. Có thể trong chương trình đã có những học phần được xác định là căn cứ đánh giá mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra của người học", thầy Dũng chia sẻ.
Lý do Trường ĐH Hà Nội chỉ đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh theo hình thức chính quy
Lý giải thêm về việc Trường Đại học Hà Nội duy trì hình thức đào tạo chính quy đối với văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh, thầy Dũng cho biết, quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép tổ chức đào tạo trình độ đại học cho người học đã có bằng đại học ở hình thức chính quy hoặc các hình thức khác (vừa làm vừa học, từ xa). Theo đó, hình thức đào tạo được ghi rõ trên phụ lục văn bằng (là bộ phận không thể tách rời văn bằng), chẳng hạn bằng đại học thứ 2 hình thức chính quy hoặc bằng đại học thứ 2 hình thức vừa làm vừa học. Khi tốt nghiệp, người học được cung cấp văn bằng cùng phụ lục văn bằng tương ứng.
Tuy nhiên, tại Trường Đại học Hà Nội, ngay từ khi bắt đầu triển khai cho đến nay, nhà trường vẫn xác định văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh được đào tạo theo hình thức chính quy.
Cũng theo thầy Dũng, việc người học lựa chọn chương trình và hình thức đào tạo văn bằng 2 phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có uy tín của cơ sở đào tạo, thời gian học tập, phương thức tổ chức đào tạo và mức độ nghiêm cẩn về yêu cầu đối với người học trong quá trình học tập.
Về uy tín cơ sở đào tạo, thầy Dũng cho rằng người học lựa chọn học văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh của Trường Đại học Hà Nội với kỳ vọng vào chất lượng đào tạo và giá trị của tấm bằng do Nhà trường cấp.
Với những người có nhu cầu hoàn thành chương trình trong thời gian ngắn, việc lựa chọn một chương trình kéo dài đến 4 năm, yêu cầu học tập tại cơ sở đào tạo như tại Trường Đại học Hà Nội có thể là vấn đề cần cân nhắc, đặc biệt đối với người sinh sống và làm việc ở các tỉnh, thành phố xa Hà Nội.
"Qua trao đổi với những người đăng ký học văn bằng 2 tại trường, họ cho biết việc lựa chọn chương trình vì khối lượng học tập lớn, yêu cầu học trực tiếp nhiều và công tác kiểm tra, đánh giá chặt chẽ. Những người học này mong muốn được đào tạo bài bản và có kiến thức, năng lực tương xứng với văn bằng đại học thứ hai.
Còn với những người gặp khó khăn trong việc bố trí thời gian học tập và vấn đề di chuyển, các chương trình có phương thức tổ chức linh hoạt hơn có thể phù hợp với điều kiện cá nhân. Chẳng hạn, đào tạo từ xa hoặc vừa làm vừa học cho phép người học chủ động hơn trong việc sắp xếp thời gian; thời gian đào tạo tối đa của hình thức vừa làm vừa học có thể kéo dài gấp đôi so với chương trình chính quy", thầy Dũng cho biết.
Bên cạnh chương trình và hình thức đào tạo, thầy Dũng cho rằng, năng lực tự học là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến kết quả học ngoại ngữ.
Theo đó, ngay cả khi cùng theo học một chương trình, trong cùng một lớp, người học vẫn có thể đạt mức độ tiến bộ khác nhau. Sự khác biệt một phần đến từ việc mỗi cá nhân chủ động khai thác thời gian tự học và sử dụng các công cụ hỗ trợ học tập ở mức độ khác nhau.
Đối với tiếng Anh, hiện có nhiều công cụ hỗ trợ tự học trên mạng; nhà trường cũng cung cấp các công cụ để sinh viên chủ động luyện tập và củng cố kiến thức. Nếu biết khai thác hiệu quả những tiện ích này, người học có thể nâng cao năng lực ngoại ngữ và hoàn thành chương trình đào tạo thuận lợi hơn.
"Hiệu quả học ngoại ngữ và việc lựa chọn hình thức đào tạo phụ thuộc vào đặc điểm, điều kiện và sự chủ động của từng người học", thầy Dũng chia sẻ.
Nỗi lo đào tạo “sản xuất theo lô”, chuyên gia đề xuất kiểm tra ngẫu nhiên người học
Từ góc độ chuyên gia, ông Nguyễn Bá Thuyền - Đại biểu Quốc hội khoá XIII, nguyên Ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội cho rằng, trong khuôn khổ pháp luật hiện hành, trường đại học được quyền tổ chức tuyển sinh, đào tạo văn bằng 2 (nếu đủ điều kiện) với các hình thức và phương thức đào tạo được pháp luật quy định. Tuy nhiên, vấn đề cần được quan tâm nhất vẫn là chất lượng thực chất, năng lực mà người học đạt được sau đào tạo.
Văn bằng có ý nghĩa khi phản ánh đúng trình độ, năng lực của người được cấp. Trường hợp việc đào tạo không bảo đảm chất lượng, người học có thể vẫn được cấp văn bằng nhưng năng lực thực tế không tương xứng, dẫn đến giá trị của văn bằng trở nên nặng về hình thức.
"Đâu đó trong xã hội vẫn còn tâm lý coi trọng bằng cấp, trong khi xu hướng ở nhiều quốc gia là chú trọng đánh giá năng lực thực tế của người học. Đối với đào tạo Ngôn ngữ Anh, điều cần quan tâm là xác định họ có thực sự sử dụng được ngoại ngữ trong học tập, công việc và đời sống hàng ngày hay không", ông Thuyền chia sẻ.
Bên cạnh đó, với hình thức đào tạo thường xuyên, trong đó có đào tạo trực tuyến, về nguyên tắc vẫn có thể bảo đảm chất lượng đối với những người học có ý thức và thực sự nghiêm túc. Phương thức học không phải yếu tố duy nhất quyết định chất lượng đào tạo. Trường hợp người học tham gia chương trình đào tạo chủ yếu nhằm có văn bằng để đáp ứng yêu cầu về chuẩn đầu vào, chuẩn đầu ra của một chương trình đào tạo nào đó, hoặc đáp ứng được điều kiện tuyển dụng thì việc học có thể trở nên hình thức. Trong trường hợp này, dù được tổ chức học trực tiếp tại trường hay trung tâm, người học vẫn khó tạo ra sự tiến bộ thực chất về năng lực.
“Việc học ngoại ngữ cần hướng đến khả năng sử dụng trong cuộc sống và công việc, không nên chỉ dừng ở mục tiêu có thêm một văn bằng”, ông Thuyền nhấn mạnh.
Bởi, thực tế vẫn có những trường hợp công chức, viên chức, thậm chí ứng viên giáo sư, phó giáo sư chưa sử dụng thành thạo tiếng Anh hoặc một ngoại ngữ khác, trong khi ngoại ngữ là một trong những yêu cầu được đặt ra trong quá trình công tác, học tập và xét các tiêu chuẩn nghề nghiệp. Điều này cho thấy việc sở hữu văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh chưa thể đồng nhất với năng lực ngoại ngữ thực tế.
Do đó, dù người học văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh theo hình thức hay phương thức nào cũng cần có cơ chế kiểm tra, đánh giá để xác định năng lực thực tế sau đào tạo. Đây cũng là cơ sở để chuyển trọng tâm từ việc coi trọng văn bằng sang chú trọng năng lực của người học.
"Trong xã hội vẫn còn nhiều người có tâm lý chuộng bằng cấp, yêu cầu đánh giá năng lực thực chất càng trở nên cần thiết. Đặc biệt, chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học đang đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực sử dụng ngoại ngữ. Việc đào tạo và đánh giá ngoại ngữ cần được chú trọng từ khả năng vận dụng thực tế, chứ không dựa vào việc hoàn thành một chương trình và nhận văn bằng. Chúng ta cần thay đổi tư duy rằng năng lực thực tiễn mới là điều quan trọng nhất”, ông Thuyền chia sẻ.
Liên quan đến thực tế hiện có nhiều cơ sở giáo dục đại học tổ chức đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh với các hình thức và phương thức khác nhau, ông Thuyền cho rằng cần tiếp tục đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá đầu ra để hạn chế tình trạng đào tạo chạy theo số lượng.
Đặc biệt, kịp thời chấn chỉnh cơ sở giáo dục đại học có biểu hiện tổ chức đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh theo kiểu “sản xuất theo lô” cử nhân từ xa, đặt số lượng người học và nguồn thu lên trên yêu cầu về chất lượng đào tạo.
Cơ quan quản lý nhà nước hoàn toàn có thể tăng cường kiểm tra, thanh tra, trong đó nên có những đợt kiểm tra đột xuất, ngẫu nhiên đối với người học văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh tại các cơ sở giáo dục đại học.
Trường hợp qua kiểm tra ngẫu nhiên thấy chất lượng người học không đáp ứng yêu cầu, trách nhiệm trước hết phải được xác định đối với cơ sở đào tạo và người đứng đầu nhà trường. Đây cũng là căn cứ để phân định rõ giữa hoạt động đào tạo thực chất, hướng đến chất lượng người học với việc tổ chức đào tạo chủ yếu nhằm mục tiêu tài chính.
Theo tìm hiểu, trong chương trình đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh hệ tại một số cơ sở giáo dục đại học nêu rõ, sau khi tốt nghiệp, người học có khả năng giao tiếp hiệu quả trong các hoạt động chuyên môn được đào tạo, đạt tối thiểu trình độ C1 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam, ban hành kèm Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24/1/2014.
Người đạt trình độ C1 ngoại ngữ có khả năng sử dụng thành thạo, tự nhiên cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Anh phục vụ các mục đích giao tiếp khác nhau.