Hội thảo khoa học “Giảng dạy, nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Đông Nam Á” năm 2026

11/10/2026 08:29
Thúy Hiền

GDVN - Hội thảo là diễn đàn để các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trình bày những công trình nghiên cứu, ứng dụng tiên phong và dự báo xu hướng trong việc giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á.

Ngày 10/10, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á” năm 2026.

Tham dự hội thảo có Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Lân Trung - Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Việt Nam; Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Giáp - Nguyên Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hoành - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hòa - Nguyên Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Hà Nội; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Nam - Nguyên Trưởng khoa Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội; ông Nolan Phan - Giám đốc Chương trình tiếng Việt - American Councils.

Về phía Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội có Tiến sĩ Hoa Ngọc Sơn - Phó Hiệu trưởng nhà trường; Tiến sĩ Trần Hữu Trí - Trưởng khoa Khoa Ngôn ngữ - Văn hoá Việt Nam và Đông Nam Á; Thạc sĩ Nguyễn Thị Vân Chi - Phó Trưởng khoa Khoa Ngôn ngữ - Văn hoá Việt Nam và Đông Nam Á cùng các đại biểu, khách mời, chuyên gia, nhà khoa học đến từ một số trường đại học trên cả nước và đông đảo giảng viên, sinh viên Việt Nam, sinh viên quốc tế của nhà trường.

vnu02097.jpg
vnu02098.jpg
Một số đại biểu, chuyên gia, nhà khoa học tham dự hội thảo. Ảnh: ULIS.

Phát biểu khai mạc hội thảo, Tiến sĩ Hoa Ngọc Sơn - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết: “Hội thảo khoa học quốc tế “Giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á” năm 2026 nhằm thúc đẩy trao đổi học thuật, chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu và giảng dạy giữa các giảng viên, giáo viên và các nhà khoa học tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Đông Nam Á trong và ngoài nước.

Đồng thời, hội thảo cũng là diễn đàn để các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trình bày những công trình nghiên cứu, ứng dụng tiên phong và dự báo xu hướng trong việc giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á. Hội thảo nằm trong khuôn khổ Hội thảo quốc gia Nghiên cứu và giảng dạy ngoại ngữ, ngôn ngữ và quốc tế học (UNiC 2026)”.

vnu02115.jpg
Tiến sĩ Hoa Ngọc Sơn - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: ULIS.

Báo cáo đề dẫn phiên toàn thể, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thị Hồng Hạnh - Giảng viên Khoa Ngôn ngữ học và Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã trình bày về “Một vài trao đổi về việc giảng dạy văn hóa cho sinh viên nước ngoài học tiếng Việt”.

Theo Phó Giáo sư Trần Thị Hồng Hạnh, trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, việc phát triển năng lực liên văn hoá là một kỹ năng được xem là thiết yếu để thích nghi với môi trường toàn cầu cũng như nuôi dưỡng tư duy cởi mở và sự thấu cảm. Việc học một ngôn ngữ trở thành hành trình khám phá văn hoá, mang lại cho người học không chỉ công cụ để diễn đạt mà còn cả sự hiểu biết cần thiết để giao tiếp hiệu quả.

Phó Giáo sư Trần Thị Hồng Hạnh đưa ra hai cách tiếp cận trong giảng dạy văn hóa, gồm quan điểm tĩnh và quan điểm động. Theo quan điểm tĩnh, văn hóa được nhìn nhận như hệ thống kiến thức thực tế hoặc các hiện vật văn hóa, qua đó người học quan sát, tìm hiểu và tiếp nhận những thông tin cần được truyền tải. Trong khi đó, quan điểm động xem văn hóa là một quá trình, gắn với việc học ngôn ngữ trong bối cảnh liên văn hóa và sự tương tác giữa các nền văn hóa.

Theo đó, dạy văn hóa không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin về văn hóa mà còn hướng tới việc giúp người học khám phá, trải nghiệm và hình thành năng lực giao tiếp liên văn hóa. Việc lựa chọn phương pháp giảng dạy cụ thể cần căn cứ vào nhiều yếu tố, trong đó có chương trình đào tạo, mục tiêu môn học và đặc điểm của người học.

vnu02130.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thị Hồng Hạnh - Giảng viên Khoa Ngôn ngữ học và Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đặt vấn đề về việc giảng dạy văn hóa cho sinh viên nước ngoài học tiếng Việt. Ảnh: ULIS.

Tiếp nối hội thảo là tham luận “Giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội (ULIS-VNU): Thực trạng và định hướng chính sách cấp cơ sở” do Tiến sĩ Trần Hữu Trí - Trưởng khoa Khoa Ngôn ngữ - Văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội trình bày.

Về mặt kết quả tổ chức, năm 2023, nhà trường triển khai chương trình đào tạo tiếng Việt gồm 6 trình độ từ A1 đến C2. Năm 2025, chương trình “Giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ” thuộc ngành Tiếng Việt và Văn hoá Việt Nam bắt đầu tuyển sinh và đào tạo.

Từ thực tiễn triển khai các hoạt động đào tạo và giao lưu văn hóa, ULIS-VNU đang đứng trước yêu cầu chuyển từ việc mở rộng quy mô hoạt động sang thiết kế các mô hình học tập có mục tiêu, có tính kế thừa và gắn chặt hơn với nhu cầu thực tế của người học.

vnu02146.jpg
Tiến sĩ Trần Hữu Trí - Trưởng khoa Khoa Ngôn ngữ - Văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội báo cáo tại hội thảo. Ảnh: ULIS.

“Trước hết, tỷ trọng các loại hình giao lưu văn hóa ngày càng tăng, đạt 44% trong năm 2025, cho thấy nhu cầu trải nghiệm, tìm hiểu văn hóa và sử dụng ngôn ngữ trong môi trường thực tế đang trở thành một thành tố quan trọng trong đào tạo. Tuy nhiên, với những chương trình có thời lượng ngắn, vấn đề đặt ra là phải xác định được mục tiêu vừa sức, tránh dàn trải, đồng thời tạo ra những lựa chọn học tập phù hợp với từng nhóm người học. Vì vậy, định hướng được đặt ra là thiết kế chương trình theo nhu cầu và trình độ của người học, đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu, nội dung và cách thức kiểm tra, đánh giá.

Bên cạnh đó, ULIS-VNU hiện có chương trình cử nhân với 68 sinh viên khóa 2025, 72 sinh viên khóa 2026 cùng các lớp tiếng Việt ngắn hạn. Đây không chỉ là quy mô đào tạo mà còn mở ra cơ hội đưa kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ sư phạm vào thực tiễn. Vấn đề được đặt ra là làm thế nào để người học có thể chuyển hóa kiến thức chuyên môn thành năng lực giảng dạy thực tế, chẳng hạn thông qua hoạt động thực hành, trợ giảng hoặc tham gia trực tiếp vào các tình huống dạy học. Theo đó, đào tạo người dạy cần được gắn nhiều hơn với thực tiễn dạy tiếng Việt, thay vì chỉ dừng ở kiến thức lý thuyết.

Một hướng khác đến từ hệ thống câu lạc bộ ngoại khóa và các hoạt động trải nghiệm văn hóa. Nếu trước đây những hoạt động này chủ yếu mang tính phong trào, tổ chức sự kiện, thì thực tiễn mới đặt ra yêu cầu chuyển sang thiết kế các nhiệm vụ giao tiếp có mục tiêu và có sự hỗ trợ, phù hợp với từng nhóm người học, đặc biệt là học sinh trung học phổ thông. Cách tiếp cận này giúp hoạt động ngoại khóa không chỉ tạo không gian vui chơi, trải nghiệm mà còn trở thành một môi trường thực hành ngôn ngữ, trong đó người học được sử dụng tiếng Việt thường xuyên, có hỗ trợ và có khả năng tiếp nối việc học sau mỗi hoạt động.

Đáng chú ý, việc hình thành kho học liệu số và hợp tác với FSEL cũng tạo thêm dư địa để mở rộng phương thức học tập. Học liệu số có thể giúp người học chủ động tiếp cận nội dung, mở rộng khả năng tự học và tăng tính linh hoạt của chương trình. Tuy nhiên, cùng với đó là yêu cầu phải tăng cường khả năng tương tác, kết nối và phối hợp với các đối tác, để học liệu số không chỉ là nguồn tài nguyên cung cấp một chiều mà trở thành một phần của hệ sinh thái đào tạo”, Tiến sĩ Trần Hữu Trí cho hay.

vnu02153.jpg
Tiến sĩ Hồ Thị Thành - Giảng viên Khoa Đông phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội phân tích lý do lựa chọn ngôn ngữ của sinh viên đang học tiếng Thái Lan và tiếng Indonesia tại trường. Ảnh: ULIS.

Tại hội thảo, Tiến sĩ Hồ Thị Thành - Giảng viên Khoa Đông phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội nêu những vấn đề về “Động lực học tập ngôn ngữ bản địa ở khu vực Đông Nam Á của sinh viên tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội: nghiên cứu trường hợp sinh viên học tiếng Indonesia và tiếng Thái Lan”.

Qua quá trình giảng dạy và theo dõi số liệu tuyển sinh trong nhiều năm, nhóm nghiên cứu nhận thấy sinh viên thường có xu hướng quan tâm đến tiếng Thái Lan nhiều hơn tiếng Indonesia. Tuy nhiên, để xác định rõ nguyên nhân, cũng như tìm hiểu những động lực và rào cản trong quá trình học tập, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát bước đầu về lý do lựa chọn ngôn ngữ của sinh viên.

Khảo sát tập trung vào sinh viên đang học tiếng Thái Lan và tiếng Indonesia tại trường. Đây mới là nghiên cứu sơ bộ, phạm vi khảo sát còn hạn chế, chưa bao quát toàn bộ người học tại các cơ sở đào tạo khác. Vì vậy, kết quả chủ yếu giúp nhận diện những xu hướng ban đầu, làm cơ sở để tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu hơn.

Đối với nhóm sinh viên học tiếng Thái Lan thuộc chuyên ngành Thái Lan học, trong số 37 sinh viên được khảo sát, có 34 sinh viên, tương đương khoảng 92%, cho biết yêu thích văn hóa là lý do lựa chọn ngôn ngữ này. Trong khi đó, lý do liên quan đến cơ hội việc làm chiếm tỷ lệ rất thấp.

Ở nhóm sinh viên học tiếng Thái Lan thuộc ngành Đông phương học, có 119/136 sinh viên tham gia khảo sát. Trong số này, 111 sinh viên, tương đương khoảng 93%, cho biết yêu thích văn hóa Thái Lan là một trong những động lực lựa chọn ngôn ngữ. Tỷ lệ sinh viên lựa chọn vì cơ hội việc làm cũng chỉ chiếm một phần nhỏ. Kết quả trên cho thấy sức hấp dẫn của văn hóa Thái Lan có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút sinh viên theo học ngôn ngữ này.

Đối với tiếng Indonesia, kết quả khảo sát cho thấy bức tranh có phần khác biệt. Trong số 65 sinh viên trả lời câu hỏi về lý do lựa chọn ngôn ngữ, có 28 sinh viên, tương đương 43,1%, cho biết yêu thích văn hóa Indonesia. Trong khi đó, 18,5% lựa chọn vì cơ hội việc làm và 33,8% vì lý do liên quan đến việc học. Một số sinh viên đưa ra những lý do khác hoặc chưa nêu rõ động lực lựa chọn.

Như vậy, so với tiếng Thái Lan, mức độ ảnh hưởng của yếu tố văn hóa đối với quyết định học tiếng Indonesia trong nhóm sinh viên được khảo sát thấp hơn đáng kể. Tuy nhiên, kết quả này chưa đủ để kết luận sức hấp dẫn của văn hóa Indonesia thấp hơn một cách tuyệt đối, bởi quyết định lựa chọn ngôn ngữ còn có thể chịu tác động từ mức độ tiếp cận thông tin, trải nghiệm cá nhân và nhận thức về cơ hội nghề nghiệp.

vnu02156.jpg
Nhóm nghiên cứu của Tiến sĩ Hồ Thị Thành đã tiến hành khảo sát bước đầu về lý do lựa chọn ngôn ngữ của sinh viên. Ảnh: ULIS.

Từ kết quả khảo sát bước đầu, Tiến sĩ Hồ Thị Thành cho rằng văn hóa có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực học ngoại ngữ, đặc biệt đối với các ngôn ngữ Đông Nam Á. Tuy nhiên, sức hấp dẫn văn hóa không chỉ phụ thuộc vào bản thân các giá trị văn hóa mà còn liên quan đến cách chúng được giới thiệu, quảng bá và đưa đến gần hơn với công chúng, nhất là giới trẻ.

Thực tế cho thấy, một số quốc gia như Thái Lan đã tạo được mức độ hiện diện tương đối rõ nét tại Việt Nam thông qua phim ảnh, âm nhạc, du lịch và các hoạt động giao lưu văn hóa. Những sản phẩm và trải nghiệm này giúp người trẻ hình thành sự quan tâm trước khi quyết định học ngôn ngữ.

Trong khi đó, văn hóa Indonesia dù có nhiều nét đặc sắc nhưng dường như chưa được tiếp cận rộng rãi tại Việt Nam. Qua trao đổi với sinh viên, nhóm nghiên cứu nhận thấy một số em biết đến văn hóa Indonesia thông qua những chương trình riêng lẻ, nhưng sau đó lại gặp khó khăn khi muốn tìm hiểu thêm do thiếu nguồn thông tin và hoạt động quảng bá thường xuyên.

Các hoạt động giao lưu do cơ quan đại diện ngoại giao tổ chức có ý nghĩa quan trọng trong việc giới thiệu văn hóa Indonesia. Tuy nhiên, nếu hoạt động chủ yếu tập trung vào một số sự kiện nhất định, mức độ lan tỏa có thể chưa tương xứng với tiềm năng. Vì vậy, cần nghiên cứu những phương thức quảng bá đa dạng hơn, đưa các sản phẩm văn hóa đến với sinh viên và công chúng tại nhiều địa phương, đồng thời tăng cường sự hiện diện trên các nền tảng truyền thông mà giới trẻ thường xuyên sử dụng.

Điều này cũng gợi mở một vấn đề rộng hơn: muốn tăng cường sự hiểu biết giữa các quốc gia ASEAN, bên cạnh hợp tác về chính trị, kinh tế và ngoại giao, cần chú trọng thúc đẩy giao lưu văn hóa. Khi người trẻ có cơ hội tiếp xúc thường xuyên với ngôn ngữ và văn hóa của một quốc gia, họ sẽ có thêm động lực tìm hiểu, học tập và kết nối với quốc gia đó.

Thúy Hiền