Sau 1 năm mở ngành Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam, ULIS giải bài toán tuyển sinh ra sao?

15/03/2026 06:23
Thúy Hiền
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Với cơ hội việc làm đa dạng, SV sau khi tốt nghiệp có thể giảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho người nước ngoài ở các trường trên toàn thế giới.

Sau một năm chính thức triển khai đào tạo, ngành Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội bước đầu ghi nhận những tín hiệu nhất định trong công tác tuyển sinh và tổ chức đào tạo. Đây là ngành học gắn với việc nghiên cứu, giảng dạy tiếng Việt, văn hóa Việt Nam, đồng thời đáp ứng nhu cầu giao lưu văn hóa, hợp tác quốc tế và giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.

Tuy nhiên, trong bối cảnh nhiều ngành học mới liên tục xuất hiện và xu hướng lựa chọn ngành nghề của thí sinh ngày càng đa dạng, việc thu hút người học đối với các ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn vẫn đặt ra không ít thách thức.

Chương trình học đáp ứng nhu cầu nhân lực trong và ngoài nước

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Trần Hữu Trí - Trưởng khoa Ngôn ngữ - Văn hoá Việt Nam và Đông Nam Á, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, ngành Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam của nhà trường hiện được triển khai đào tạo theo chương trình Giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ.

Chương trình đào tạo Giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ hướng tới đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có kiến thức vững chắc về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, cùng năng lực làm việc chuyên nghiệp, sáng tạo trong môi trường quốc tế.

Người học được trang bị khả năng sử dụng tiếng Việt thành thạo (đối với người nước ngoài) và sử dụng tốt tiếng Anh, Trung, Nhật, Hàn (đối với người Việt Nam); đồng thời hình thành phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp cần thiết để giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ một cách hiệu quả. Qua đó, sinh viên có thể phát huy thế mạnh cá nhân trong việc giới thiệu, quảng bá tiếng Việt và văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Chương trình đào tạo Giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ thuộc ngành Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam không chỉ hướng tới việc giúp người học, đặc biệt là sinh viên quốc tế, sử dụng tiếng Việt thành thạo ở cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết mà còn trang bị kiến thức toàn diện và chuyên sâu về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam. Đồng thời, chương trình chú trọng bồi dưỡng năng lực sư phạm thông qua các học phần về phương pháp giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, tâm lý học trong giảng dạy, giúp người học từng bước hình thành và nâng cao năng lực giảng dạy tiếng Việt một cách hiệu quả.

ts-tran-huu-tri.jpg
Tiến sĩ Trần Hữu Trí - Trưởng khoa Ngôn ngữ - Văn hoá Việt Nam và Đông Nam Á, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: NVCC.

Bên cạnh đó, sinh viên quốc tế theo học chương trình phải đạt trình độ tiếng Việt bậc 5 theo Khung năng lực tiếng Việt 6 bậc dành cho người nước ngoài trước khi tốt nghiệp. Yêu cầu này không chỉ giúp người học nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt mà còn tạo điều kiện để họ tham gia tích cực vào các hoạt động học thuật, học tập cộng đồng trong nhà trường, qua đó tăng cường khả năng giao tiếp và hội nhập trong môi trường học tập tại Việt Nam.

Đối với sinh viên Việt Nam, chương trình cho phép lựa chọn học thêm một trong 4 ngoại ngữ đang được đào tạo tại trường như tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nhật hoặc tiếng Hàn. Nhờ đó, người học có thể phát triển đồng thời năng lực ngoại ngữ và kiến thức chuyên sâu về Việt Nam học. Đây cũng là nền tảng để sinh viên trong nước và quốc tế trở thành cầu nối trong các hoạt động giao lưu, hợp tác ở nhiều lĩnh vực, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa Việt Nam ra khu vực và thế giới.

Sau khi tốt nghiệp, cử nhân của ngành Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam có nhiều cơ hội nghề nghiệp trong các lĩnh vực liên quan đến ngôn ngữ, văn hóa và giao lưu quốc tế.

Trước hết, người học có thể tham gia giảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho người nước ngoài, kiều bào hoặc các nhóm người học mục tiêu khác nhau tại các cơ sở giáo dục, trung tâm đào tạo, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp hoặc các chương trình giao lưu văn hóa trong và ngoài nước. Với nền tảng kiến thức chuyên sâu về ngôn ngữ, văn hóa cùng phương pháp giảng dạy hiện đại, cử nhân tốt nghiệp có khả năng tổ chức các hoạt động dạy học linh hoạt, góp phần lan tỏa tiếng Việt và giá trị văn hóa Việt Nam đến cộng đồng quốc tế.

Bên cạnh lĩnh vực giảng dạy, sinh viên tốt nghiệp cũng có thể đảm nhiệm các vị trí như biên - phiên dịch viên, thư ký, trợ lý đối ngoại hoặc chuyên viên hợp tác quốc tế tại các doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan ngoại giao, đại sứ quán hay văn phòng đại diện của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Nhờ lợi thế về khả năng ngoại ngữ kết hợp với kiến thức về văn hóa và xã hội Việt Nam, người học có thể đóng vai trò cầu nối trong các hoạt động giao tiếp, hợp tác và trao đổi thông tin giữa các đối tác trong và ngoài nước.

Ngoài ra, cử nhân của chương trình còn có thể làm việc trong lĩnh vực truyền thông, xuất bản và nghiên cứu với các vị trí như biên tập viên, chuyên viên nội dung, chuyên viên dự án về ngôn ngữ và văn hóa tại các cơ quan báo chí, nhà xuất bản, viện nghiên cứu hoặc các tổ chức văn hóa - giáo dục.

Trong lĩnh vực du lịch và giao lưu văn hóa, người học cũng có thể trở thành hướng dẫn viên du lịch quốc tế, thuyết minh viên tại các bảo tàng, di tích lịch sử - văn hóa hoặc làm việc tại các trung tâm văn hóa, tổ chức giao lưu quốc tế có liên quan đến Việt Nam.

ulis-tieng-viet.png
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Hội Xuân 2026 với sự tham gia của đông đảo sinh viên Việt Nam và sinh viên quốc tế. Ảnh: NVCC.

Về đội ngũ giảng viên, Tiến sĩ Trần Hữu Trí cho biết, hiện Khoa Ngôn ngữ - Văn hoá Việt Nam và Đông Nam Á có 11 cán bộ, trong đó gồm 6 tiến sĩ, 1 nghiên cứu sinh, 3 thạc sĩ và 1 chuyên viên.

Công tác đánh giá năng lực giảng viên được nhà trường triển khai định kỳ hằng năm, dựa trên nhiều tiêu chí như trình độ chuyên môn, năng lực giảng dạy, hoạt động nghiên cứu khoa học và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Kết quả đánh giá không chỉ giúp giảng viên nhận diện điểm mạnh, điểm cần cải thiện để tiếp tục hoàn thiện chuyên môn mà còn là cơ sở để nhà trường xây dựng các chương trình bồi dưỡng, phát triển năng lực đội ngũ.

Bên cạnh hoạt động giảng dạy và nghiên cứu, đội ngũ giảng viên của khoa còn tích cực tham gia các hoạt động hỗ trợ sinh viên và kết nối cộng đồng. Nhiều tọa đàm, seminar học thuật, các cộng đồng thực hành (COPs), ngày hội trải nghiệm văn hóa Việt Nam, ngày hội kết nối, câu lạc bộ ngoại khóa … được tổ chức nhằm trao đổi kiến thức chuyên môn, chia sẻ kỹ năng học tập và định hướng nghề nghiệp cho sinh viên.

Đồng thời, giảng viên cũng thường xuyên tư vấn về cơ hội thực tập, việc làm, góp phần giúp sinh viên phát triển kỹ năng mềm, mở rộng mạng lưới kết nối với doanh nghiệp và nhà tuyển dụng.

Ngành mới đối mặt thách thức khi nhiều trường cùng mở đào tạo

Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, ngành Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam nói chung, cũng như chương trình đào tạo Giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ nói riêng đang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển.

“Trước hết, sự mở rộng và phát triển mạnh mẽ của quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới, cùng với làn sóng đầu tư nước ngoài ngày càng gia tăng đã tạo ra nhu cầu lớn về nguồn nhân lực có năng lực ngôn ngữ và hiểu biết sâu sắc về văn hóa Việt Nam. Những nhân sự này đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối, hỗ trợ giao tiếp và thúc đẩy hợp tác giữa các doanh nghiệp, tổ chức trong nước với các đối tác quốc tế.

Bên cạnh đó, vị thế của tiếng Việt trên trường quốc tế đang từng bước được nâng cao. Hiện nay, tiếng Việt đã và đang được giảng dạy, nghiên cứu tại nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Pháp… Điều này cho thấy sự quan tâm ngày càng lớn của cộng đồng quốc tế đối với ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, đồng thời tạo ra nguồn người học ổn định, đặc biệt là sinh viên quốc tế mong muốn tìm hiểu sâu hơn về Việt Nam.

Một lợi thế khác của ngành là tính ứng dụng đa dạng trong thị trường lao động. Sinh viên tốt nghiệp không chỉ có cơ hội làm việc trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Việt và nghiên cứu văn hóa mà còn có thể tham gia nhiều lĩnh vực khác như ngoại giao, truyền thông - báo chí, du lịch, biên - phiên dịch, hoặc đảm nhiệm các vị trí liên quan đến đối ngoại, quản trị nhân sự, phát triển thị trường tại các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài. Sự kết hợp giữa năng lực ngôn ngữ, hiểu biết văn hóa và khả năng giao tiếp liên văn hóa giúp người học có nhiều lựa chọn nghề nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Tiến sĩ Trần Hữu Trí cho hay.

ulis.png
Sinh viên quốc tế của Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội tham quan và tìm hiểu Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam. Ảnh: website nhà trường.

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, việc phát triển và thu hút người học đối với ngành Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam vẫn đối mặt với một số thách thức nhất định. Trước hết, trong nhận thức của một bộ phận thí sinh và phụ huynh, ngành học này đôi khi vẫn bị nhầm lẫn với các ngành mang tính học thuật thuần túy như Văn học hoặc Ngôn ngữ học. Điều này khiến nhiều học sinh trong nước còn băn khoăn về cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp, đặc biệt khi so sánh với những ngành được cho là có tính “thị trường” cao hơn như kinh tế, công nghệ hoặc kỹ thuật.

Ngoài ra, trong những năm gần đây, nhiều cơ sở giáo dục đại học đã mở hoặc phát triển các chương trình đào tạo liên quan đến Việt Nam học, ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Sự gia tăng về số lượng đơn vị đào tạo tuy góp phần đa dạng hóa lựa chọn cho người học nhưng đồng thời cũng tạo ra áp lực cạnh tranh nhất định giữa các trường về chất lượng chương trình, đội ngũ giảng viên cũng như cơ hội thực tập và việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp.

Một thách thức khác liên quan đến việc kết nối với doanh nghiệp và thị trường lao động. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài thường có nhu cầu về nguồn nhân lực có kỹ năng thực hành cao hoặc điều phối dự án trong môi trường quốc tế. Vì vậy, việc tăng cường gắn kết giữa đào tạo và thực tiễn nghề nghiệp, thông qua các hoạt động thực tập, dự án hợp tác với doanh nghiệp hoặc các chương trình đào tạo kỹ năng bổ trợ đang trở thành yêu cầu quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của ngành trong thời gian tới.

Một số đối tác của Khoa hiện nay có thể kể đến như Đại học Dân tộc Quảng Tây; Đại học Nghiên cứu Quốc tế Bắc Kinh; Đại học Quốc gia Chengchi, Đài Loan, Trung Quốc; Đại học Wisconsin-Madison, Hoa Kỳ; Đại học Ngoại ngữ Tokyo, Nhật Bản và nhiều đối tác trong và ngoài nước khác.

Em Zhao Zhanxiang - sinh viên người Trung Quốc lớp VN2, khóa QH2025, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội bày tỏ, ngành học không chỉ giúp sinh viên quốc tế cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp của tiếng Việt và văn hóa Việt Nam mà còn giúp hiểu sâu hơn về sự đa dạng của đất nước, từ phong tục, tập quán đến con người và đời sống xã hội.

“Thông qua việc học tiếng Việt, em có cơ hội nâng cao năng lực ngôn ngữ của bản thân, đồng thời từng bước khám phá và trải nghiệm những nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam một cách gần gũi và chân thực.

Nhờ khả năng sử dụng tiếng Việt ngày càng tốt hơn, giờ đây em có thể giao tiếp, trò chuyện tự nhiên với mọi người xung quanh, qua đó cảm nhận được sự thân thiện, cởi mở và tình cảm của con người Việt Nam. Trên lớp, các giảng viên giảng dạy rất tận tâm, luôn cố gắng truyền đạt kiến thức một cách chi tiết, dễ hiểu để người học quốc tế có thể tiếp cận văn hóa Việt Nam một cách đầy đủ hơn.

Trong quá trình học tập, em đã rèn luyện được khả năng nói và thuyết trình, trở nên tự tin hơn khi giao tiếp với mọi người xung quanh. Là một sinh viên quốc tế, em thừa nhận rằng trong quá trình học tập gặp không ít khó khăn nhưng sự giúp đỡ và sự thân thiện từ thầy cô, bạn bè khiến em cảm thấy ấm áp và có thêm động lực để tiếp tục cố gắng.

Hiện tại, em đã có thể sử dụng tiếng Việt khá lưu loát để bày tỏ quan điểm của mình. Không chỉ trong giờ học, em còn có thể tham gia các hoạt động của khoa, của trường , vui chơi cùng sinh viên Việt Nam một cách tự nhiên. Nhờ vậy, kỹ năng giao tiếp cũng như khả năng xây dựng các mối quan hệ của em ngày càng được cải thiện”, em Zhao Zhanxiang cho hay.

tai-xuong.png
Em Zhao Zhanxiang - sinh viên người Trung Quốc lớp VN2, khóa QH2025, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: NVCC.

Còn đối với em Trần Minh Tú - Sinh viên lớp 25VN1, khóa QH2025.F1, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, lý do chọn theo học ngành Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam vì mong muốn hiểu sâu hơn về chính ngôn ngữ mẹ đẻ và bản sắc dân tộc của mình.

Minh Tú tin rằng, khi hiểu rõ tiếng Việt và văn hóa Việt Nam, em sẽ hiểu rõ hơn về cội nguồn và con người Việt Nam. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập, ngày càng nhiều người nước ngoài và kiều bào quan tâm đến tiếng Việt, nên em nhận thấy đây là một ngành học vừa giàu bản sắc, vừa có tính ứng dụng thực tế cao.

tu.jpg
Em Trần Minh Tú - Sinh viên lớp 25VN1, khóa QH2025.F1, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: NVCC.

Bên cạnh đó, em Trần Minh Tú nhận xét rằng chương trình đào tạo ngành Tiếng Việt và Văn hoá Việt Nam tại nhà trường được thiết kế theo hướng “học đi đôi với hành”. Phần lý thuyết giúp em hiểu bản chất của ngôn ngữ và các giá trị văn hóa, còn phần thực hành tạo cơ hội trải nghiệm thực tế như tổ chức ngày hội văn hóa, trò chơi dân gian, hội trại Bản sắc văn hóa và đặc biệt là tham gia trợ giảng trong các lớp tiếng Việt ngắn hạn dành cho sinh viên nước ngoài trong và ngoài trường, giao lưu với sinh viên quốc tế trong các sự kiện và câu lạc bộ của khoa. Nhờ vậy, kiến thức không chỉ nằm trên sách vở mà được vận dụng trực tiếp vào hoạt động thực tiễn.

Ngoài ra, em nhận thấy rằng cơ hội việc làm của ngành khá rộng mở. Sinh viên có thể giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và kiều bào, làm việc tại trung tâm văn hóa, cơ quan đối ngoại, tổ chức quốc tế hoặc các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài.

Để nắm bắt cơ hội đó, sinh viên cần có nền tảng chuyên môn vững vàng, kỹ năng giao tiếp - thuyết trình tốt, khả năng làm việc nhóm, tư duy phân tích và đặc biệt là ngoại ngữ. Bên cạnh đó, sự chủ động trải nghiệm thực tế và giao lưu với người nước ngoài sẽ giúp sinh viên tự tin và nổi bật hơn khi bước vào thị trường lao động.

Thúy Hiền