Không thể chỉ hoàn thành số tín chỉ là đủ điều kiện nhận văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh

16/10/2026 06:47
Khánh Vân

GDVN - Theo chuyên gia giáo dục, đào tạo văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh cần bảo đảm chuẩn đầu ra tương xứng với năng lực thực tế, tránh tình trạng hoàn thành đủ tín chỉ nhưng chưa thành thạo ngoại ngữ.

Vừa qua, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam thực hiện khảo sát về việc đào tạo văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh tại các cơ sở giáo dục đại học trên cả nước. Theo thống kê có thể thấy, cùng một loại hình đào tạo nhưng giữa các cơ sở giáo dục có sự khác biệt về khung chương trình đào tạo (số lượng tín chỉ).

Chẳng hạn, tại khu vực miền Trung, cùng đào tạo theo hình thức từ xa, tại Trường Đại học Quy Nhơn người học cần tích lũy 70 tín chỉ, Trường Đại học Yersin Đà Lạt người học cần tích lũy 80 tín chỉ. Trong khi đó, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế có số lượng tín chỉ lên đến 108 tín chỉ.

Tại khu vực miền Nam, cùng đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học, tại Trường Đại học Kiên Giang người học cần tích lũy 60 tín chỉ, Trường Đại học Thủ Dầu Một người học cần tích lũy 70 tín chỉ, trong khi đó Trường Đại học Đồng Tháp chương trình đào tạo gồm 90 tín chỉ.

Sự khác biệt này đặt ra băn khoăn về căn cứ xác định khối lượng kiến thức, yêu cầu đầu ra và mức độ tương đồng giữa các chương trình đào tạo.

Vì sao các trường có sự chênh lệch tín chỉ khi cùng đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh?

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng cho biết, sự chênh lệch về số tín chỉ chủ yếu xuất phát từ ba nguyên nhân gồm: sự khác nhau trong việc công nhận tín chỉ đã tích lũy ở văn bằng thứ nhất; sự khác biệt về cấu trúc, định hướng chương trình đào tạo; yêu cầu về năng lực đầu vào của người học.

Theo quy định hiện hành, các cơ sở giáo dục đại học được chủ động xây dựng chương trình đào tạo nhưng phải bảo đảm chuẩn chương trình đào tạo và chuẩn đầu ra theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Vì vậy, không thể đánh giá chất lượng đào tạo chỉ dựa vào số lượng tín chỉ. Chương trình ít tín chỉ chưa chắc chất lượng thấp nếu việc công nhận tín chỉ có căn cứ và người học đáp ứng đầy đủ chuẩn đầu ra. Ngược lại, chương trình nhiều tín chỉ cũng không đồng nghĩa với chất lượng cao.

Điều quan trọng, các trường phải công khai tổng số tín chỉ của chương trình, số tín chỉ được công nhận và số tín chỉ người học thực tế phải hoàn thành. Đặc biệt, dù học bao nhiêu tín chỉ, người tốt nghiệp cùng ngành phải đáp ứng chuẩn đầu ra tương ứng với trình độ đào tạo.

z5779147527441-e133f2ff1a63e682ae51d8558595d539-8325.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng. Ảnh: NVCC.

Cùng bàn về vấn đề này, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo) nêu quan điểm, tín chỉ là đơn vị phản ánh khối lượng học tập của người học. Vì vậy, sự chênh lệch về số lượng tín chỉ giữa các cơ sở giáo dục đào tạo văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh cần được xem xét trên cơ sở chuẩn đầu ra và chất lượng đào tạo, thay vì chỉ nhìn vào số lượng tín chỉ nhiều hay ít. Số lượng tín chỉ không phải là yếu tố duy nhất quyết định chất lượng đào tạo. Điều quan trọng là chương trình đào tạo phải bảo đảm người học đạt chuẩn đầu ra.

Tuy nhiên, nếu số tín chỉ quá ít, không đáp ứng đủ khối lượng kiến thức và thời gian học tập cần thiết, chất lượng đào tạo khó có thể được bảo đảm. Ngược lại, một chương trình đào tạo có nhiều tín chỉ hơn có thể tạo điều kiện để người học tiếp thu kiến thức đầy đủ hơn, nhưng cũng cần tránh tình trạng tăng khối lượng đào tạo mà không gắn với hiệu quả học tập thực tế. Đồng thời, số lượng tín chỉ nhiều không đồng nghĩa với chất lượng được nâng cao, do còn phụ thuộc vào các yếu tố như nội dung chương trình, phương pháp đào tạo... Do đó, vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở số lượng tín chỉ mà nằm ở việc người học đạt được năng lực gì sau khi hoàn thành chương trình học.

Ngoài ra, quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học trong tổ chức đào tạo và trách nhiệm bảo đảm chất lượng đối với chương trình cấp bằng cho phép các trường xây dựng chương trình với khối lượng tín chỉ khác nhau. Tuy vậy, sự khác biệt này cần được xem xét trong mối tương quan với yêu cầu về khối lượng kiến thức và chuẩn đầu ra của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

33a743ede7616d3f3470.jpg
Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo). Ảnh: NVCC.

Chuẩn đầu ra không thể chỉ dừng ở việc hoàn thành tín chỉ

Sự khác biệt về khối lượng tín chỉ giữa các cơ sở giáo dục đào tạo văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh còn đặt ra vấn đề về tính thống nhất của chuẩn đầu ra và năng lực thực tế của người học sau khi tốt nghiệp.

Về vấn đề này, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh cho rằng, đối với đào tạo văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh cần đặc biệt chú trọng năng lực sử dụng tiếng Anh thực tế. Không thể chỉ căn cứ vào văn bằng để mặc nhiên kết luận một người có đủ trình độ ngoại ngữ theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hay không. Muốn đánh giá chính xác cần kiểm tra trực tiếp khả năng đọc hiểu, diễn giải, trao đổi và viết bằng tiếng Anh của người học.

Chẳng hạn, khi đánh giá năng lực ngoại ngữ của người học bậc thạc sĩ hoặc tiến sĩ để đáp ứng chuẩn đầu vào, đầu ra, người hướng dẫn có thể yêu cầu người học đọc tài liệu tiếng Anh, trình bày nội dung, phân tích vấn đề cũng như trao đổi về những gì đã đọc bằng tiếng Anh. Qua đó, người đánh giá có thể nhận biết được khả năng sử dụng ngoại ngữ thực chất, thay vì chỉ dựa vào văn bằng để chứng minh.

Chính vì vậy, chuẩn đầu ra, năng lực ngoại ngữ của sinh viên tốt nghiệp văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh cần phân biệt giữa việc hoàn thành các học phần và việc thực sự đạt được năng lực cần thiết. Người học có thể hoàn thành đủ số tín chỉ nhưng điều đó chưa tự động chứng minh họ đã đạt trình độ tiếng Anh tương ứng như B2, C1... Vì vậy, các cơ sở giáo dục cần có phương thức đánh giá phù hợp để xác định năng lực thực tế của người học khi hoàn thành khóa học.

Đối với người học, cần xác định rõ mục đích học tập, lựa chọn chương trình phù hợp và chú trọng việc nâng cao năng lực ngoại ngữ thực chất để phục vụ công việc, học tập hoặc nghiên cứu. Bởi nếu việc học chỉ nhằm hoàn thiện thủ tục bằng cấp, quá trình đào tạo dễ trở nên hình thức, không mang lại giá trị tương xứng với thời gian và chi phí mà người học bỏ ra.

Dưới góc độ chuyên gia, Tiến sĩ Lê Đông Phương - nguyên cán bộ Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo) nhìn nhận, chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo không chỉ thể hiện trình độ thành thạo ngoại ngữ người học đạt được, mà còn bao gồm những kiến thức và năng lực khác. Đối với ngành Ngôn ngữ Anh, người học không chỉ cần biết sử dụng tiếng Anh mà phải có khả năng đọc hiểu, xử lý và phân tích tài liệu bằng ngôn ngữ này.

Do đó, các trường có thể đưa yêu cầu về trình độ ngoại ngữ, chẳng hạn B1, B2 hoặc C1 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam vào chuẩn đầu ra như một tiêu chí đánh giá bổ sung. Tuy nhiên, không nhất thiết phải coi một mức độ thành thạo ngoại ngữ cụ thể là điều kiện bắt buộc duy nhất để cấp bằng. Chương trình đào tạo trình độ đại học cần hướng đến những năng lực tổng hợp, phù hợp với mục tiêu và thiết kế của từng ngành học.

Vấn đề cần quan tâm là nhiều người học văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh nhằm đáp ứng yêu cầu ngoại ngữ khi tuyển dụng hoặc xét tuyển vào các chương trình đào tạo sau đại học. Một số người lựa chọn con đường này vì cho rằng văn bằng đại học có giá trị vĩnh viễn, trong khi chứng chỉ ngoại ngữ chỉ có thời hạn công nhận nhất định.

Tuy nhiên, cần phân biệt giá trị của một văn bằng với kết quả đánh giá năng lực ngoại ngữ theo khung tham chiếu cụ thể. Văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh phản ánh quá trình đào tạo và những năng lực người học được trang bị theo chương trình. Trong khi đó, trình độ B2, C1... thể hiện mức độ thành thạo khi sử dụng ngoại ngữ theo các tiêu chí đánh giá tương ứng. Hai nội dung này có liên quan nhưng không hoàn toàn đồng nhất.

Việc mặc nhiên coi người có bằng đại học ngành Ngôn ngữ Anh đạt tương đương trình độ C1 mà không có đánh giá tương ứng có thể dẫn đến nhiều bất cập. Trên thực tế, một số người học văn bằng 2 chủ yếu để đáp ứng điều kiện về ngoại ngữ khi học lên cao hơn, thay vì hướng đến việc phát triển năng lực sử dụng tiếng Anh một cách thực chất. Nếu việc đào tạo không bảo đảm chất lượng, mục tiêu trang bị năng lực thực chất cho người học có nguy cơ bị xem nhẹ.

ts-le-dong-phuong-8819-optimized.png
Tiến sĩ Lê Đông Phương - nguyên cán bộ Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo). Ảnh: Doãn Nhàn

Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh cho rằng, cần thống nhất một ngưỡng năng lực tiếng Anh đầu ra tối thiểu đối với ngành Ngôn ngữ Anh, không phân biệt văn bằng thứ nhất hay văn bằng thứ hai. Trong đó, trình độ C1 (bậc 5/6 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam) là mức đáng cân nhắc, bởi người tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ Anh cần có khả năng sử dụng tiếng Anh thành thạo trong học tập, nghiên cứu và môi trường nghề nghiệp.

Tuy nhiên, không nên bắt buộc người học phải có một loại chứng chỉ giống nhau. Các trường có thể sử dụng những hình thức đánh giá khác nhau, miễn kết quả phản ánh đúng năng lực và được kiểm soát chất lượng. Điều cần thống nhất là chuẩn năng lực đầu ra, không nhất thiết là hình thức chứng nhận năng lực. Để bảo đảm chất lượng và tính thống nhất, cần thực hiện ba giải pháp:

Thứ nhất, quy định thống nhất ngưỡng năng lực tiếng Anh đầu ra và tiêu chí đánh giá bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.

Thứ hai, cho phép các trường sử dụng kết quả kỳ thi chuẩn hóa hoặc tổ chức đánh giá đầu ra theo bộ tiêu chí chung, có cơ chế thẩm định và giám sát độc lập.

Thứ ba, công khai chuẩn đầu ra, phương thức đánh giá và kết quả đạt chuẩn; tăng cường kiểm định, đối sánh chất lượng giữa các cơ sở đào tạo.

Khánh Vân