Học chính khóa 4 ngày/tuần: Không đơn thuần là giảm ngày học mà cần tổ chức chương trình phù hợp

27/10/2026 06:37
Trần Trang

GDVN - Theo các chuyên gia, vấn đề không phải học bao nhiêu ngày mỗi tuần, mà nhà trường có phương án tổ chức hoạt động trải nghiệm hợp lý.

Sau khi Thông tư 85/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo được ban hành, nhiều trường phổ thông xây dựng kế hoạch điều chỉnh hoạt động giáo dục. Trong đó, phương án học chính khóa 4 ngày/tuần, sáng thứ Sáu dành cho các hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp và sinh hoạt câu lạc bộ của Trường Trung học phổ thông Nguyễn Hữu Thọ (phường Xóm Chiếu, thành phố Hồ Chí Minh) được dư luận quan tâm.

Chuyên gia cho rằng, dù học 4 ngày hay 5 ngày, thời gian dành cho hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, phát triển kỹ năng là vô cùng cần thiết.

Mô hình học chính khóa 4 ngày/tuần có cả ưu và nhược điểm

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Phạm Doãn Nguyên - Phó trưởng Ban Truyền thông - Hướng nghiệp, kiêm Phó Giám đốc Trung tâm Truyền thông - Hướng nghiệp - Kỹ năng số, Hội giáo dục Nghề nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ: “Mô hình học 4 ngày/tuần được áp dụng thử nghiệm tại Mỹ, Pháp, Anh, Hà Lan, Ba Lan...

Thực chất lịch học 4 ngày/tuần hay 4,5 ngày/tuần là quy hoạch lại thời gian học của học sinh, điều chỉnh tiết học tăng, kéo dài thời gian học trong một ngày và giảm đi số lượng ngày học trong tuần. Mô hình học này giúp tối ưu hóa thời gian và phương pháp giảng dạy, giáo viên tinh gọn bài giảng trên lớp, tập trung vào kiến thức lõi, tăng cường bài tập tự học, tự nghiên cứu.

Ngày không lên lớp chính khóa nhà trường có thể tổ chức linh hoạt các hoạt động phù hợp với nhu cầu của học sinh như tổ chức các hoạt động nghệ thuật, thể thao, STEM, trải nghiệm tham quan thực tế…. Bên cạnh đó, trường tổ chức các khóa đào tạo, các hoạt động nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ dành cho giáo viên mà không ảnh hưởng đến giờ lên lớp, giúp thu hút và giữ chân nhân tài”.

Ông Nguyên nhận xét, mô hình học 4 ngày/tuần có thể giúp giảm chi phí vận hành cho xã hội và nhà trường, đồng thời giảm mật độ phương tiện tham gia giao thông. Giáo viên có thêm thời gian nghỉ ngơi, phục hồi sức lực và cân bằng cuộc sống. Học sinh cũng có nhiều thời gian tự học, nghỉ ngơi, phát triển sở thích cá nhân và giải quyết công việc riêng mà không phải nghỉ học.

Tuy nhiên, mô hình này cũng đặt ra một số khó khăn. Phụ huynh có thể gặp trở ngại trong việc sắp xếp người chăm sóc con vào ngày trẻ nghỉ học nhưng người lớn vẫn đi làm. Thời gian học kéo dài trong ngày có thể khiến học sinh khó duy trì sự tập trung.

Bên cạnh đó, kỳ nghỉ kéo dài 3 ngày liên tục có nguy cơ làm gián đoạn việc học, khiến học sinh dễ quên kiến thức. Học sinh có hoàn cảnh khó khăn cũng có thể thiếu điều kiện và môi trường phù hợp để phát triển toàn diện trong những ngày không đến trường.

1792678787943-4040090981935758726-4040090981935758726-71d8982f618999cccabd06809ba84826.jpg
Thạc sĩ Phạm Doãn Nguyên hướng nghiệp cho học sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

Là chuyên gia trong lĩnh vực tư vấn giáo dục, bà Nguyễn Thị Hải Diệu - Thạc sĩ Khoa học Giáo dục tại Đại học Jyväskylä (Phần Lan), Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Glocal Enabler chia sẻ: “Hiện không có quốc gia nào áp dụng tuần học 4 ngày trên toàn quốc cho mọi cấp học. Mô hình này chỉ có ở một số địa phương, một số cấp học”.

Bà Diệu cho rằng, việc bố trí các tiết học văn hóa và chính khóa liên tục trong ngày tuy thuận tiện cho công tác tổ chức, quản lý nhưng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện và cân bằng của học sinh.

Theo đó, để bảo đảm đủ thời lượng chương trình, các trường áp dụng tuần học 4 ngày thường phải kéo dài thời gian học mỗi ngày. Điều này có thể khiến học sinh, nhất là trẻ tiểu học và đầu cấp trung học cơ sở, dễ mệt mỏi, giảm khả năng tập trung và tiếp thu kiến thức vào cuối ngày.

Bên cạnh đó, khoảng nghỉ kéo dài cũng có thể khiến học sinh quên một phần kiến thức đã học, ảnh hưởng đến quá trình tiếp thu bài mới. Mô hình này còn đặt ra thách thức về công tác chăm sóc trẻ và nguy cơ gia tăng bất bình đẳng trong tiếp cận các hoạt động giáo dục. Với những gia đình lao động phổ thông, việc con nghỉ học thêm một ngày trong tuần có thể làm tăng chi phí và thời gian trông trẻ.

Trong khi học sinh có điều kiện kinh tế được tham gia các hoạt động bổ ích, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn có thể thiếu sự giám sát, ít cơ hội phát triển kỹ năng hoặc gặp khó khăn trong việc bảo đảm dinh dưỡng nếu phụ thuộc vào bữa ăn tại trường.

1792660675859-1298981533549592721-g9191603455349056536-f05ce7b2f99b73663d8cc2af89e73a61-1.jpg
Bà Nguyễn Thị Hải Diệu - Thạc sĩ Khoa học Giáo dục tại Đại học Jyväskylä (Phần Lan), Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Glocal Enabler. Ảnh: NVCC

Cùng bàn luận về vấn đề này, Tiến sĩ Đàm Quang Minh - Chủ tịch Khối Phổ thông Tập đoàn Giáo dục EQuest, Hiệu trưởng Trường Đại học Phú Xuân nhận xét: “Theo quan sát của tôi, trên thế giới, mô hình học 4 ngày/tuần không phổ biến bằng lịch học 5 ngày/tuần. Sự khác biệt giữa các hệ thống giáo dục không chỉ nằm ở số ngày đến trường mà còn ở cách bố trí thời gian học trong ngày”.

Khi điều chỉnh lịch học, nhà trường và cơ quan quản lý cần tính đến phương án đưa đón, tổ chức các hoạt động sau giờ học và điều kiện chăm sóc học sinh, bảo đảm việc thay đổi thời khóa biểu mang lại lợi ích thiết thực cho học sinh mà không làm gia tăng gánh nặng cho gia đình.

Bên cạnh đó, các chương trình vận động, trải nghiệm và hướng nghiệp ở Việt Nam thường được coi là hoạt động ngoại khóa, trong khi tại nhiều quốc gia, những hoạt động này được tích hợp vào chương trình giáo dục và được nhà trường coi trọng.

Do đó, không nhất thiết phải giảm số ngày học trong tuần, mà quan trọng là nhà trường cần xây dựng thời khóa biểu hợp lý.

photo-1-1606448994472668171832.jpg
Tiến sĩ Đàm Quang Minh - Chủ tịch Khối Phổ thông Tập đoàn Giáo dục EQuest, Hiệu trưởng Trường Đại học Phú Xuân. Ảnh: NVCC

Tổ chức hoạt động giáo dục ra sao cho phù hợp?

Ông Nguyên cho rằng mô hình học 4 ngày/tuần không đơn thuần là cắt giảm một ngày học, mà đòi hỏi sự thay đổi toàn diện trong phương pháp tổ chức và quản lý dạy học.

Hiện nay, Việt Nam đang triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 với khung thời gian được thiết kế cho tuần học 5 ngày. Vì vậy, nếu áp dụng mô hình học 4 ngày/tuần, cần có lộ trình phù hợp và giải quyết đồng bộ nhiều điều kiện, từ cấu trúc chương trình, khối lượng kiến thức đến tỷ lệ giữa thời gian học chính khóa và thời gian học sinh tự học, nghiên cứu, trải nghiệm vào ngày thứ Sáu.

Đồng thời, cần chú trọng phát triển năng lực tự học của học sinh và đầu tư cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin, để giáo viên có thể tổ chức, quản lý và theo dõi quá trình học tập của các em.

Một vấn đề quan trọng khác là bảo đảm sự phù hợp giữa lịch học của học sinh và thời gian làm việc của phụ huynh. Nếu chưa thể đồng bộ lịch học với thị trường lao động, cần xác định rõ định hướng tổ chức các hoạt động vào ngày thứ Sáu, như trải nghiệm, hướng nghiệp, rèn luyện kỹ năng, thể thao và nghệ thuật. Những hoạt động này có thể được tổ chức theo hình thức linh hoạt, không bắt buộc trong giai đoạn thí điểm, nhằm tạo điều kiện cho các gia đình không có người trông nom con trong ngày nghỉ học.

Mô hình học 4 ngày/tuần hướng đến sự cân bằng và nâng cao hiệu quả giáo dục, nhưng trong điều kiện Việt Nam hiện nay, không nên triển khai đồng loạt. Thay vào đó, có thể thí điểm tại những trường trung học phổ thông đáp ứng đủ điều kiện về đội ngũ, cơ sở vật chất và phương pháp tổ chức dạy học.

Ở bậc học này, học sinh đã có khả năng tự học và tự quản lý thời gian tốt hơn. Trong khi đó, ở cấp tiểu học và trung học cơ sở, nên duy trì lịch học 5 ngày/tuần với thời lượng phù hợp, đáp ứng nhu cầu phát triển tâm sinh lý cũng như điều kiện chăm sóc, quản lý của gia đình.

Ngoài chương trình học chính khóa, nhà trường cần ưu tiên trang bị cho học sinh các kỹ năng sống thiết yếu như sơ cấp cứu, phòng cháy, chữa cháy, an toàn trên không gian mạng và ứng phó với thiên tai. Các kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm, kiểm soát cảm xúc, ứng phó với áp lực và quản lý tài chính cá nhân cũng cần được chú trọng. Đặc biệt, cần nâng cao năng lực số và tăng cường trải nghiệm hướng nghiệp thực tế tại doanh nghiệp, cơ sở đào tạo nghề và trường đại học.

Để những hoạt động này mang lại hiệu quả, nhà trường cần tổ chức theo hướng chuyên sâu, tăng tính thực hành, tạo cơ hội để học sinh trực tiếp tham gia và trải nghiệm các tình huống thực tế. Đồng thời, cần phát triển hệ thống câu lạc bộ theo sở thích, năng khiếu và lĩnh vực chuyên môn, qua đó tạo môi trường để học sinh chủ động khám phá, phát huy thế mạnh và phát triển năng lực cá nhân.

giai-the-thao-equest-champions-series-17.jpg
Ảnh minh họa: Giải thể thao EQuest Champions Series

Thầy Minh chia sẻ, tại Singapore, hoạt động đồng chương trình học (Co-Curricular Activities - CCA) là một bộ phận quan trọng trong giáo dục toàn diện. Học sinh trung học bắt buộc tham gia CCA và có thể lựa chọn các nhóm hoạt động như thể thao, nghệ thuật biểu diễn, câu lạc bộ, hội nhóm và các đội hình có tổ chức. Hiện tại nhiều trường xây dựng lịch thời khóa biểu 2 tiết/ngày cho các hoạt động này.

Thông qua đó, học sinh không chỉ phát triển năng khiếu, sở thích mà còn rèn luyện kỹ năng xã hội, tinh thần trách nhiệm, khả năng lãnh đạo và ý thức gắn kết với cộng đồng. CCA vì vậy không đơn thuần là hoạt động giải trí sau giờ học mà còn là một phần trong quá trình giáo dục nhân cách và phát triển năng lực của học sinh.

Tại Trung Quốc, việc tăng cường vận động thể chất cho học sinh cũng được đặt ra từ nhiều năm trước. Năm 2007, Bộ Giáo dục Trung Quốc yêu cầu học sinh tham gia hoạt động thể chất ít nhất một giờ mỗi ngày.

Đến năm 2024, nước này tiếp tục thúc đẩy mục tiêu bảo đảm học sinh tiểu học và trung học cơ sở có ít nhất hai giờ hoạt động thể chất mỗi ngày, kết hợp một tiết giáo dục thể chất với thời gian vận động sau giờ học. Đến năm 2026, Trung Quốc cho biết đã triển khai yêu cầu này tại tất cả các đơn vị hành chính cấp tỉnh, đồng thời mở rộng thời gian nghỉ giữa giờ lên 15 phút để khuyến khích học sinh vận động ngoài lớp học.

Điểm đáng chú ý từ những kinh nghiệm này là hoạt động thể chất, nghệ thuật và phát triển kỹ năng không chỉ được tổ chức khi học sinh có thời gian rảnh mà cần được bố trí thành một phần có kế hoạch trong hoạt động giáo dục hằng ngày.

“Việt Nam có thể tham khảo cách tiếp cận này để cân bằng giữa học tập kiến thức với vận động, trải nghiệm và phát triển năng lực cá nhân. Tuy nhiên, việc vận dụng cần phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và đặc điểm của từng cấp học, thay vì chỉ tăng số lượng hoạt động trên thời khóa biểu” – thầy Minh bày tỏ.

Bà Diệu cho rằng, thay vì dành riêng một ngày cho hoạt động bổ trợ, cách tiếp cận đan xen học văn hoá và kỹ năng trong mỗi ngày học vẫn phù hợp hơn. Các hoạt động giáo dục bổ trợ, trải nghiệm và hướng nghiệp không nên được xem là phần ngoài giờ hay nội dung phụ thêm, mà cần trở thành một bộ phận chính thức của chương trình học.

Kinh nghiệm của Phần Lan cho thấy trải nghiệm và hướng nghiệp có thể được tích hợp chặt chẽ vào chương trình chính khóa. Một số ngày, ranh giới giữa các môn học truyền thống sẽ được xóa bỏ khi học sinh khám phá một đề tài dưới nhiều góc nhìn khác nhau.

Ở bậc trung học phổ thông, học sinh được học hướng nghiệp và hỗ trợ xây dựng kế hoạch học tập, nghề nghiệp cá nhân ngay từ năm đầu. Các em còn tham gia những dự án liên môn gắn với vấn đề thực tiễn như biến đổi khí hậu, nước sạch, đô thị thông minh.

Học sinh cuối cấp trung học cơ sở có cơ hội trải nghiệm công việc tại doanh nghiệp, cơ quan thông qua chương trình TET. Bên cạnh đó, mô hình Yrityskylä tạo môi trường mô phỏng một thành phố thu nhỏ, nơi học sinh trải nghiệm vai trò của người lao động, tìm hiểu tiền lương, thuế và các quyết định kinh tế. Chương trình trung học phổ thông cũng chú trọng kết nối học sinh với các cơ sở giáo dục đại học và thị trường lao động, đồng thời tạo điều kiện để các em lựa chọn học phần phù hợp với năng lực, sở thích.

Từ kinh nghiệm này, nhà trường cần ưu tiên một số nhóm nội dung. Trước hết là hướng nghiệp gắn với khám phá bản thân, giúp học sinh nhận diện sở thích, năng lực, tìm hiểu thị trường lao động và các con đường học tập sau phổ thông, bao gồm cả giáo dục nghề nghiệp. Mỗi học sinh nên có hồ sơ hoặc kế hoạch nghề nghiệp cá nhân được theo dõi xuyên suốt quá trình học tập.

Bên cạnh đó, cần tăng cường các dự án liên môn gắn với thực tiễn địa phương, chẳng hạn khảo sát môi trường sống, tìm hiểu làng nghề truyền thống hoặc xây dựng giải pháp chuyển đổi số cho hoạt động của nhà trường. Qua đó, học sinh có cơ hội vận dụng kiến thức Toán, Khoa học, Ngữ văn, Địa lý và các môn học khác để giải quyết vấn đề thực tế.

Các chương trình giáo dục kỹ năng sống và kỹ năng cho tương lai cũng cần được chú trọng, bao gồm quản lý tài chính cá nhân, kỹ năng số, an toàn trên mạng, tư duy phản biện, giao tiếp, làm việc nhóm và chăm sóc sức khỏe tinh thần.

Đồng thời, nhà trường nên tạo điều kiện phát triển các câu lạc bộ khoa học, STEM, nghiên cứu khoa học, nghệ thuật, thể thao, ngoại ngữ và khởi nghiệp. Học sinh cần được khuyến khích chủ động đề xuất, tổ chức hoạt động, với giáo viên giữ vai trò hướng dẫn.

Để triển khai hiệu quả, các hoạt động này cần được đưa vào thời khóa biểu chính thức, có thể tổ chức theo tuần chuyên đề hoặc từng giai đoạn tập trung thay vì chỉ diễn ra rải rác vào cuối tuần. Nhà trường nên tăng cường học tập qua dự án, tham quan và trải nghiệm thực tế tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, trường đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Sự tham gia của chuyên gia, người lao động, phụ huynh, cựu học sinh và doanh nghiệp địa phương cũng góp phần giúp nội dung giáo dục gần gũi hơn với thực tiễn.

Một yêu cầu quan trọng khác là bố trí giáo viên được bồi dưỡng bài bản về tư vấn hướng nghiệp, thay vì chủ yếu giao nhiệm vụ này cho giáo viên chủ nhiệm kiêm nhiệm. Việc đánh giá nên tập trung vào quá trình học tập và sản phẩm thực tế, thông qua hồ sơ học tập, bài thuyết trình, dự án và hoạt động tự đánh giá, thay vì chỉ dựa vào bài kiểm tra lý thuyết. Các hoạt động cũng cần bảo đảm tính công bằng, không tạo gánh nặng chi phí cho gia đình và phù hợp với điều kiện của từng địa phương.

Trần Trang